Thứ Tư, 27 tháng 3, 2013

VỀ THÀNH PHỐ ĐI VẮNG

có cái gì đó như bất nhẫn trong ngòi bút miêu tả đôi lúc đến lạnh lùng của nhà văn trong truyện ngắn lấy làm tựa sách. Nhưng nhờ vậy, người đọc thấy thấm thía. Phố đông nhưng người phố cô đơn.


Cuộc sống với những xáo trộn, mất mát và bất an. Đô thị hiện đại, trẻ trung, năng động nhưng chất chứa trong lòng nó một khuôn mặt thời gian bị bôi xóa bởi những lãng quên, bị vùi lấp trong chậm rãi ngưng đọng, bị đe dọa bằng những gam màu loang của sự hủy diệt những giá trị. Thành phố đi vắng là chuyện về những đôi mắt người như đang ở lưng chừng giữa sự sống và cái chết, tồn tại nhưng không thật sự hiện hữu. Mà lựa chọn nào cũng hằn lại những khoảng trống đến hoang mang.


Tôi vẫn rất nhớ Nguyễn Thị Thu Huệ từ truyện ngắn Hậu thiên đường. Mà từ thời ấy đến bây giờ đã tròm trèm gần 2 thập kỷ. Một lớp độc giả trẻ cũng có lẽ cũng đã được thay mới.
Với Thành phố đi vắng lần này, tôi lại thấy tính cảnh báo trong từng câu chuyện của chị. Những nhân vật “run rẩy” đi trong chiều dài, và cả chiều sâu cuộc sống nhưng không ai định hình được con đường sẽ dẫn về đâu. Không một ai. Những định hướng hoang mang, mục tiêu sống cũng chìm khuất trong cái nhộn nhịp nhưng bức bối. Khái niệm hiểu thấu và chia sẻ trở thành điều xa xỉ. Có cái gì đó như bất nhẫn trong ngòi bút miêu tả đôi lúc đến lạnh lùng của nhà văn trong truyện ngắn lấy làm tựa sách, nhưng cũng chính nhờ vậy mà người đọc thấy thấm thía. Phố đông nhưng người phố cô đơn.
Tôi nhớ gia đình nhà Tân - Luyến với thằng con Thái Dương trong truyện Sống gửi thác về. Cuộc sống của gia đình này chậm rãi từng chi tiết đến mức người đọc phải tự hỏi rằng rồi thì mọi thứ trong cuộc sống cuối cùng sẽ ngày qua ngày với những vòng quay trở đi trở lại của sự việc, lời nói vậy sao? Nhưng rồi Luyến bị ung thư gan. Cái chết của người vốn sinh ra làm ngọn lửa giữ ấm cho gia đình không ai lường trước được như một điểm thắt trên chiếc đồng hồ cát để rồi mọi thứ hoàn toàn đảo lộn trong cuộc sống của “hai thằng đàn ông trong nhà” - một lớn một bé mà nếu chỉ nghe cách xưng hô thì không biết ai là cha ai là con. Một sự thiếu vắng hẫng hụt đến tội nghiệp. Mà cũng chỉ khi điều thân quen mất đi, người ta mới kịp giật mình nhận ra rằng hôm nay còn đây, thì biết mà thương mà lo cho nhau đi, ai biết ngày mai…
Tôi nhớ Của cha, của Con và Cành vạn niên thanh. Cuộc sống của “gà trống nuôi con” ngày qua ngày chen lấn trong cái bí mật về sự ra đi của người mẹ - mà mãi khi đứa con thiếu vắng tình thương lớn lên mới hiểu được lỗi lầm đó là của cha. Sự phản bội không thể tha thứ đã làm tan vỡ một gia đình lẽ ra là đã rất hạnh phúc. Rồi Cha, trong cuộc mưu sinh đã bỏ quên con gái mỗi ngày phải chứng kiến cảnh vợ chồng nhà hàng xóm “yêu” nhau để rồi nó cũng bước chân vào cuộc “khám phá” thế giới của người lớn. Chính vào lúc con trượt ngã, Cha vì cứu người mà nhận lấy những vết chém từ bọn giang hồ. Nỗi đau nào là lớn nhất trong cuộc đời của Cha, của Con hay tất cả cũng chỉ là những mảnh ghép rời rã như cách cha đã gắn lá giả cho những cành vạn niên thanh?
Tôi nhớ những lời lẩm nhẩm sau cùng của anh chàng tiến sĩ trong Coi như không biết. Mấy chục năm vợ chồng hạnh phúc, ròng rã cả tuổi trẻ đua theo những học hàm học vị để rồi bị tâm thần, chỉ nhắc đến số tiền 35 triệu đồng và cô cave. Số tiền không lớn nhưng đủ giết chết một con người. 3 ngày được yêu thương và chia sẻ đủ khiến một con người hóa điên khi ngọn nguồn yêu thương ấy mãi mãi mất đi. Trước cái chết và những ranh giới của sự tồn tại, khái niệm cave cũng không còn quan trọng, mà chỉ có tình yêu thật sự là tồn tại mãi mãi.
Tôi nhớ cả những câu nói của các nhân vật, những dòng cuối để lý giải hoặc đơn giản là để kết thúc cho một khuôn truyện đủ sức làm nhói lòng người đọc. “Đừng bao giờ để anh một mình - Ừ, đừng bao giờ…”, “Em không bỏ anh, em đi vì có còn anh nữa đâu”, “Mảnh giấy báo nơi ở thường trú của cô: Khu 29, Lô E, số mộ 435, nghĩa trang Bình yên”…
Thành phố của nhà văn, cuộc sống chảy chậm rãi trong từng mái nhà, ngõ hẻm; và cũng như miền trầm tích giữ lại từng vết loang của mất mát, của những nhầm lẫn và sợ hãi, của những cuộc đi, của những chuyến về… Thành phố đi vắng. “Không còn sự lộn xộn của đời sống thị dân bao đời vẫn thế. Phố vẫn dài, giờ thêm lạnh. Ngày cuối tuần thành phố như đông máu. Vô cảm, dửng dưng. Thật là khi phát hiện ra đời sống của một nơi chốn lại có thể tác động tới cảm xúc của mình đến thế. Xe miên miết trôi. Người miên miết đi”…
Tập truyện khiến người đọc đôi lúc phải chùng lòng, nghĩ về những mải miết lao chen trong cuộc sống ở thời đại của bất an và đầy tổn thương này. Một lời cảnh báo cần thiết - để người phải đi tìm người, tìm lại chính mình - ngay cả khi phía sau có là những tiếng thở dài…
Tiểu Quyên

NGƯỜI ĐẸP VIẾT VĂN


Nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ.
"Với tôi, văn chương chưa bao giờ là những điều thần bí, chỉ đơn giản đó là một phần của cuộc sống mà những ai đã trót mang nặng kiếp người đều lấy đó để cất bớt đi gánh nặng đa mang", nữ nhà văn bộc bạch.

Công việc viết văn thuộc về thế giới tâm linh, đòi hỏi phải có sự hết mình. Bởi thế, khó khăn lớn nhất của tôi mỗi khi ngồi vào bàn viết chính là sự phân tâm. Phụ nữ viết văn không phải chuyện đơn giản, bởi bên cạnh còn biết bao chức phận khác. Làm con đối với mẹ, làm mẹ đối với con, chỉ riêng hai điều đó cũng đủ để tôi bù đầu cả ngày. Nếu trong gia đình, người bố viết văn, thì ngay tức khắc công việc đó mới thiêng liêng làm sao. Nếu là đêm mùa hè, người vợ sẽ lặng lẽ đặt lên bàn một cốc nước mát, rồi suỵt lũ trẻ không được làm ồn "để yên cho bố làm việc". Còn người mẹ viết văn như tôi, liệu có thể từ chối con mình khi chúng đến nắm áo vòi vĩnh, trong lúc đang say sưa với những ý tưởng văn chương sáng tạo. Chính vì sự phân tâm ấy mà tôi luôn bị giằng xé giữa những khái niệm hết mình. Hết mình với văn chương hay hết mình với chức phận người phụ nữ trong gia đình? Nhưng cũng có lẽ nhờ điều này mà tôi mới viết nên nhiều mảng đời với những sinh hoạt bình dị của đời sống con người.

Khoảng trời trong văn của tôi gói gọn trong cuộc đời các nhân vật. Những người con gái háo hức bước chân vào tình yêu, những người đàn bà sống với ngổn ngang trăm mối tơ vò trong bi kịch tâm hồn không lối thoát. Họ là những con người của thời hiện đại, của những năm tháng mà lối sống bản năng, những khát vọng hướng thiện, hạnh phúc, khổ đau đôi khi chỉ chênh nhau mỏng manh như sợi tóc. Nếu văn chương nói vấn đề thời đại mà chất văn không có, tác phẩm sẽ mang tính ký sự. Ngược lại, văn chương điệu đà quá, sẽ giống như một nồi nước phở không có xương hầm, chỉ có vị phở, váng mỡ, cũng chỉ đánh lừa người ăn một bát mà thôi.

Có một dạo, mọi người nhìn tôi như thể người "ưa gây gổ" khi tôi đưa vấn đề tác quyền văn học ra tranh cãi. Nhưng đó chẳng qua là chuyện không thể đừng. Ai đời tuyển truyện của tôi mà không thèm nói một câu, lỗi in sai be bét. Cái tôi cần không phải là lời xin lỗi hay nhuận bút, mà chỉ cần độc giả hiểu rằng văn chương Thu Huệ không phải chỉ vài ba truyện ngắn in đi in lại kiểu "quay vòng vốn" như vậy. Mỗi tập truyện ngắn của tôi khi in chung hay riêng, bao giờ tôi cũng đích thân cặm cụi sửa đến từng lỗi nhỏ. Tôi là người cẩn trọng và tương đối quyết đoán với các tác phẩm của mình.

Với tôi, những chuyến đi xa tìm để tìm cho nhân vật của mình một tính cách chỉ có được trong văn chương. Bởi với bao chức phận đời thường đang níu giữ, phải kiên gan đến đâu người ta mới dám lên đường.

(Theo Nông Thôn Ngày Nay)

NGÔN NGỮ ĐỘC THOẠI TRONG TRUYỆN NGẮN

Lê Na
Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ thường biểu thị cá tính mạnh mẽ, dám nhìn thẳng và nói thẳng, thông qua lời kể của nhân vật kể chuyện xưng “Tôi”. Trong bài viết này, tác giả Lộc Hoàng Lê Na phân lập và bình luận về yếu tố “độc thoại” đan cài hay tách biệt với dòng trần thuật của các truyện ngắn đó...
Truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ sử dụng ngôn ngữ độc thoại đời thường một cách phổ biến. Việc lựa chọn ngôn ngữ này xuất phát từ tư duy hướng vào đời tư, bám sát hiện thực đời sống. Nguyễn Thị Thu Huệ đã đưa vào tác phẩm của mình tiếng nói của đời sống thường nhật, dung nạp nhiều khẩu ngữ tự nhiên, làm độc giả không mấy khó khăn khi tiếp cận tác phẩm. Ngôn ngữ này dường như thô nhám, đôi khi suồng sã, bỗ bã, như: “Mặt mũi những thằng đàn ông suốt đời bị mất trộm” (Tình yêu ơi ở đâu); hoặc những câu nói từ thành ngữ: “nó ăn ốc, mình đổ vỏ. Ở đời chuyện ấy thường lắm” (Nước mắt đàn ông). Cũng có khi thứ ngôn ngữ này được diễn tả theo một chiều hướng khác bằng lối nói dân gian “lọt sàng thì xuống đất rồi chôn luôn, không có nia nào cả” (Thời gian của mỗi người). Lối nói suồng sã trong truyện ngắn của chị thể hiện rõ trong những dòng độc thoại nội tâm suy tư, chiêm nghiệm về cuộc đời và con người, thể hiện cách nghĩ của nhân vật về thời cuộc, về chính mình. Những dòng độc thoại nội tâm bằng lối nói dân gian khi suồng sã, có lúc bỗ bã đến không ngờ làm cho các nhân vật của chị như gai góc hơn, thực tế hơn, đôi khi là thực dụng về  đời với một tâm trạng buồn xa xôi và chua xót.
Dòng nội tâm của các nhân vật còn được thể hiện bằng những ngôn từ hiện đại, phóng túng, giàu hình tượng của đời sống kinh tế thị trường. Điều này làm cho ngôn ngữ của họ cập nhật hơn, mới mẻ hơn với cuộc sống hiện đại. “Bên B là chùm khế ngọt, bên A trèo hái mỗi ngày” (Nước mắt đàn ông). Đồng thời Nguyễn Thị Thu Huệ  còn có những dòng độc thoại nội tâm diễn đạt bằng phương ngữ rất đỗi nhẹ nhàng và duyên dáng. Lối diễn đạt này làm cho dòng nội tâm của nhân vật diễn ra tự nhiên hơn, không câu nệ vào ngôn từ hay cách diễn đạt của tác giả.
Đưa vào tác phẩm lối nói dung dị, sử dụng ngôn ngữ đời thường, cây bút nữ trẻ đã cố gắng rút ngắn khoảng cách giữa tác phẩm và độc giả. Tiếp xúc tác phẩm truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ tôi nhận thấy rõ ràng  tác giả này đã có những sự rút gần khoảng cách người kể chuyện và nhân vật, tác giả và bạn đọc. Với lối nói kiểu đời thường này, chị đã góp phần tái hiện chân thực bức tranh của đời sống với một gam màu lạ, thể hiện được sự đa dạng và sống động của cuộc sống.
Những tác giả  nữ thường có lợi thế trong việc diễn đạt sâu sắc nội tâm nhân vật nữ, trong việc bộc lộ đến tận cùng thái độ, cách cảm, cách nghĩ của giới mình. Sự khám phá thế giới tâm hồn người phụ nữ được Nguyễn Thị Thu Huệ thể hiện ở mọi phương diện, từ trạng thái đến tình cảm, những cung bậc của cảm xúc, niềm vui và nỗi buồn, những khát khao đam mê và cả những “gót chân Asin” của họ.
Công việc nội trợ hằng ngày gắn liền với người phụ nữ, cho nên trong những dòng suy nghĩ, dòng tâm tưởng của họ cũng có ít nhiều dấu vết. Nguyễn Thị Thu Hụê đã nhìn màn “đêm đen thẫm như một miếng thạch” (Cát đợi); ví liên khúc các bài hát như: “một xâu cá rô quẫy đạp liên hồi” (Cát đợi) và “những người đàn bà khác chạy qua đời tôi nhạt nhẽo như bí luộc” (Người đàn bà ám khói); hay những cảm nhận thú vị: “nhiều khi nó thấy ở mồm mẹ nó nói ra những câu đối thoại giống như một cái chợ bán cá thu nhỏ” (Phù thuỷ), “khuôn mặt méo xệch, vẹo vọ méo mó như cái oản bẹp” (Phù thuỷ).
Bằng trực giác và cảm nhận sâu sắc, chị viết nên những tâm sự của giới đàn bà, với những điều giản dị và không xa lạ với hầu hết phụ nữ. Những tâm sự, niềm vui nỗi buồn rất đàn bà được Nguyễn Thị Thu Huệ diễn tả tinh tế “Tôi mệt mỏi và thèm nói với anh những chuyện con con như em Thuý tập lẫy, chuyện nó đi tướt mọc răng” (Hình bóng cuộc đời)... Ngoài ra chị còn thành công ở diễn tả nội tâm của người phụ nữ lo về tuổi tác và nhan sắc: “Sao đến bên gương và nhìn thấy mình trong đó. Mí mắt sùm sụp, dưới mắt mòng mọng sưng, hai vành môi đã bắt đầu đen và lỗ chân lông trên mặt to ra như những đầu tăm” (Giai nhân). Có thể nói người đàn bà trong tác phẩm của Nguyễn Thị Thu Huệ luôn cảm nhận về “cái già đang ập đến” và ngôn từ miêu tả nỗi lo lắng này trong tâm trạng phụ nữ  của Nguyễn Thị Thu Huệ cũng khác biệt.
Cây bút nữ này đã thực sự làm người đọc xúc động với những trang viết về tình mẫu tử, diễn tả những cảm xúc xác thực của người đàn bà “thèm có con. Thèm được làm mẹ” (Người đàn bà ám khói); nỗi đau của người mẹ phải xa đứa con thân yêu “phải xa những gì lâu nay là máu thịt của chị. Xa đứa con trai bé bỏng thơm tho như một chiếc bánh ga tô vừa mới ra lò” (Tân cảng). Nỗi lòng của những bà mẹ có con gái lớn cũng được Nguyễn Thị Thu Huệ thể hiện rất đạt: “Mẹ bảo: lắm khi đang ngủ, tao giật mình không hiểu mày có lấy được chồng không. Nằm ngẩn một lúc, nhớ ra là mày đã có chồng, có con tao mừng không thể tưởng được” (Biển ấm).
Trời phú cho phái nữ trái tim nhạy cảm, suy nghĩ của họ thường mang màu sắc cảm tính, họ quan sát nắm bắt hiện thực bằng trực cảm… Khi đọc tác phẩm của Nguyễn Thị Thu Huệ chúng ta bắt gặp không biết bao nhiêu cặp từ “hình như” chảy qua những dòng độc thoại nội tâm rất phụ nữ, những do dự, những tâm trạng lo lắng. Xu hướng sử dụng với tần suất cao lớp từ đặc tả những khoảnh khắc của tâm trạng, bộc lộ lối cảm nhận  trực giác tạo nên sức ám gợi với người đọc, tôi nghĩ, rất đặc trưng cho người viết là phụ nữ.
Tái hiện hiện thực tâm lý qua độc thoại nội tâm bằng ngôn ngữ trực giác và linh cảm, cây bút truyện ngắn này đã bộc lộ khả năng nắm bắt những biến thái của tâm hồn con người, đặc biệt là phụ nữ. Đọc truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ người đọc cảm nhận đó là tiếng lòng của người phụ nữ viết nên từ những trải nghiệm. Dù là lời lẽ góc cạnh hay những khẩu ngữ đời thường gần gũi, hay  ngôn ngữ mang sắc thái nữ, thì ẩn sau những câu chữ vẫn luôn là tiếng lòng, là những dự cảm thân phận được viết ra từ sự dẫn dắt tuyệt diệu của mẫn cảm bản năng.
Giọng điệu độc thoại giãi bày tâm sự thường gặp ở đây mượn hình thức tự bạch. Hầu hết các truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ được viết dưới dạng người kể chuyện xưng tôi. Với hình thức này người kể chuyện tham gia vào câu chuyện như một nhân chứng, cũng là cách làm tăng độ tin cậy của bạn đọc đối với tác phẩm. Nhân vật xưng tôi tự kể chuyện mình, bộc bạch những nỗi niềm tâm sự, suy tư, cảm xúc của mình. Đứng ở điểm nhìn trần thuật này nhiều trường hợp giọng điệu tác giả và giọng điệu nhân vật hoà làm một.
Với người kể chuyện ở ngôi thứ nhất, các chuyện ngắn này bộc lộ xu hướng viết “như một nhu cầu trình bày những trải nghiệm của bản thân”. Người kể chuyện lúc này xoá đi khoảng cách trần thuật của mình để đối thoại với độc giả. Nhân vật tự kể về cuộc đời mình, tự bộc bạch nỗi lòng của mình. Cũng có đôi khi người đọc thấy dường như “Nhà văn tự đưa mình vào tác phẩm” bộc lộ nhu cầu giãi bày tâm sự qua nhân vật. Một số truyện của Nguyễn Thị Thu Huệ dù người kể ở ngôi thứ ba nhưng vẫn mượn giọng tự bạch.
Bằng độc thoại nội tâm, tác giả đã diễn đạt những giằng xé, dằn vặt của nhân vật trước biến cố cuộc đời, tạo nên giọng điệu thâm trầm sâu lắng. Trong các tác phẩm độc thoại nội tâm như là sự giải toả tâm trạng, nhân vật thường đặt câu hỏi cho chính bản thân mình: “Sao tôi thấy cô đơn và sợ cuộc sống thế này” (Mi nu xinh đẹp), thừa nhận với mình: “Tôi thấy trống trải và hụt hẫng” (Biển ấm), khẳng định cho chính mình: “Tôi tin rằng mình lại có tình yêu bởi vì tôi mất nó quá lâu rồi” (Cát đợi).
Nền tảng của giọng điệu là cảm hứng của nhà văn. Với sự chi phối của cảm hứng về cái bi, truyện của cây bút này mang giọng xót xa khinh bạc, đặc biệt là khi nhìn vào mặt trái của cuộc sống, vào những éo le khôn cùng của  những “lỉnh kỉnh, dở dang của cuộc sống”, những ảo tưởng tình yêu tan vỡ, trống trải và hụt hẫng sau những nỗ lực để bằng mọi giá có được người đàn ông của đời mình...
Giọng điệu này có trong nhiều truyện như: Người đàn bà ám khói, Hoàng hôn màu cỏ úa, Thiếu phụ chưa chồng, Một chiều mưa…
Nguyễn Thị Thu Huệ thường viết về cái nhìn đầy nghi kỵ, thậm chí là khinh bạc với giới đàn ông sống thực dụng. Đàn ông trong tác phẩm của chị thường là nhân vật gây ra những đau khổ cho nhiều phụ nữ đặc biệt là những cô gái trẻ ngây thơ và cả tin. Người đàn bà biết rõ nỗi cô đơn ngày càng thắt chặt, nên những dòng độc thoại nội tâm của họ được Nguyễn Thị Thu Huệ diễn đạt rất sâu sắc. Những nhân vật nữ trong truyện ngắn của  tác giả nữ này suốt cuộc đời không tìm thấy điểm tựa và họ chua chát khi nhận ra điều đó: “Chị hay khóc với tôi và cho rằng đàn ông thì cần thật nhưng tốt nhất là không nên có” (Hoàng hôn màu cỏ úa).
Ngôn ngữ độc thoại biểu thị sự xót xa khinh bạc của Nguyễn Thị Thu Huệ  tỏ rõ một sự đồng cảm sâu sắc. Ngôn ngữ độc thoại đó còn hài hước châm biếm thể hiện qua cách miêu tả hiện thực trong tâm tưởng mang sắc thái bi hài: Nguyễn Thị Thu Huệ xây dựng nên hình tượng người trí thức trong hoàn cảnh túng quẫn về kinh tế, thay vì nuôi dưỡng những ý tưởng khoa học, hằng ngày anh ta phải nuôi chó Nhật để mưu sinh. Cũng dưới ngòi bút sắc sảo của Nguyễn Thị Thu Huệ, người đàn ông trong Hậu thiên đường thảm hại ở cả hai tư cách “làm chồng và làm người tình”…; những đấng nam nhi đại trượng phu trong con mắt những nhân vật của Nguyễn Thị Thu Huệ được phác họa là: “những anh chàng thương gia thì lạnh lùng, thô lỗ. Chàng Việt kiều thì ki bo, bủn xỉn. Nhà thơ thì yếu đuối, bệ rạc” với cái mặt: “méo mó, vẹo vọ như oản bẹp” (Tình yêu ơi ở đâu).
Có thể nói giọng điệu độc thoại châm biếm, hài hước đem đến cho cây bút nữ này một âm hưởng riêng trong các truyện ngắn phê phán. Những dòng độc thoại nội tâm của các nhân vật trong các tác phẩm thể hiện cái nhìn hiện thực mang tính dân chủ của người viết. Với thái độ không khoan nhượng những nghịch lý trớ trêu của cuộc đời, các trang viết của Nguyễn Thị Thu Huệ góp phần tái hiện bức tranh hiện thực nhiều chiều.
Quyết liệt khi miêu tả những dòng độc thoại nội tâm thể hiện những khát khao rất đàn bà nhưng cũng có khi giọng trữ tình độc thoại đằm thắm trở thành âm điệu chính trong tác phẩm của chị. Trong văn của Nguyễn Thị Thu Huệ thường có cái gì đó không thuần nhất, thậm chí đối chọi nhau chan chát, lúc bạo liệt táo tợn, lúc lại dịu dàng đến bất ngờ. Chao chát, dịu dàng ngây thơ và từng trải, đau đớn và tin tưởng cứ trộn lẫn trong tác phẩm của Nguyễn Thị Thu Huệ.
Giọng điệu trữ tình đằm thắm một mặt khơi sâu vào cảm xúc chủ quan của nhân vật, một mặt lại khơi gợi ở người đọc những khoảnh khắc rung động tâm hồn giữa dòng chảy hỗn độn của cuộc sống. Dù với tình cảm đậm nhạt khác nhau, sự tồn tại cả hai mặt đối lập này trong cùng một cây bút không phải là điều khó lý giải. Bản tính nữ và khát khao đấu tranh cho sự bình quyền, được lên tiếng trước những bất công trong đời sống, trước những thực trạng tinh thần của con người, đã tạo nên tính đa cực của ngòi bút. Đó là bằng chứng về sự đổi mới tư duy văn học và sự giải phóng ý thức cá nhân - một nhu cầu vừa mang tính nội tại vừa chịu ảnh hưởng của xu thế thời đại.
Từ ngôn ngữ độc thoại trong các tác phẩm của Nguyễn Thị Thu Huệ, tôi nhận thấy tư duy nội hướng là một đặc điểm định tính đã phần nào chi phối đến các phương thức diễn đạt góp phần vào sự phát triển, vận động của truyện ngắn Việt Nam.
Ngôn ngữ độc thoại là một phần quan trọng của tác phẩm văn chương. Cùng với ngôn ngữ đối thoại nó hoàn chỉnh tác phẩm ở góc độ ngôn ngữ. Qua việc khảo sát ngôn ngữ độc thoại trong tập “37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ”, tôi nhận thấy một lối tư duy mới, cách cảm, cách nghĩ mới mang đậm màu sắc nữ giới. Ngôn ngữ độc thoại nội tâm trong các tác phẩm truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ góp phần tạo nên một giọng điệu mới trong giai đoạn văn chương hiện đại sau 1975 với những sự nhìn nhận đánh giá về một thế giới đa cực của hiện tại.

(Nguồn Văn nghệ

NHÌN ĐÂU CŨNG THẤY VẤN ĐỀ CỦA VĂN CHƯƠNG


02.09.2007 03:35
Nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ
Nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ
"Người đọc bây giờ đa dạng, thông minh và sòng phẳng. Không ai định hướng được họ. Vậy thì tôi đâu cần phải lo cho người viết - đồng nghiệp của tôi điều gì..." - Nguyễn Thị Thu Huệ.
PV: Trước hết chị quan niệm thế nào là cách tân trong văn học?
NGUYỄN THỊ THU HUỆ: Nhà văn nào khi đặt bút viết cũng muốn viết những tác phẩm đáng giá, với mình, người thân của mình và sau đó là với người đọc. Chuyện cách tân không phải bây giờ mới được quan tâm, mà từ thời xửa thời xưa, cũng là vấn đề rồi. Tôi biết, có nhiều nhà văn, cách tân với họ là kể một câu chuyện thật giản dị, nhưng lại mang ý nghĩa khái quát cao. Một số người khác, cách tân theo kiểu thể hiện tác phẩm của mình như không gian đa chiều, nhiều mặt… Mỗi người, quan niệm cách tân một khác.
Tôi thì hiểu một cách giản dị là: Cách tân - với tôi - là làm sao người ta đọc xong một tác phẩm (Ở nhiều thể loại như tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ) phải thấy thích (tính hấp dẫn) trong lúc đọc. Đọc xong, nhớ được một nhân vật, hay nhớ nguyên một cốt truyện, hoặc nhớ một chi tiết… Tóm lại, cách tân là cách mà nhà văn với tác phẩm của mình đến được với người đọc. Còn cách tân kiểu gì, là tùy vào quan niệm và tài năng của người viết đó.
Nói hơi ngoài lề một chút, là tôi rất thích thơ của những nhà văn, những câu thơ giản dị, nhưng ám ảnh, có vẻ không quan tâm tới cách tân như thơ của nhà văn Nguyễn Bình Phương, Phan Thị Vàng Anh hay Nguyễn Thế Hoàng Linh. Đây là ý thích của riêng tôi. Còn những người khác, thích thơ của những nhà thơ khác… Điều đó cho thấy, cách tân hay không, với riêng tôi, không quan trọng bằng việc khi mình tiếp cận với một tác phẩm, mình thích là được. Không quan trọng tới việc là người đó đang cách tân hay không.
PV: Trong xu hướng cuộc sống hiện nay, các nhà văn lao vào vấn đề xã hội nhiều, và dường như những chi tiết ấy thích hợp hơn với thể loại bút ký, phóng sự. Làm thế nào để người viết chọn lọc được những chi tiết của văn học ?
NGUYỄN THỊ THU HUỆ: Tôi nhìn đâu cũng thấy vấn đề của văn chương. Mỗi tuổi, nhìn mỗi sự vật hiện tượng bằng một cái nhìn khác, một sự suy luận khác. Văn là đời. Kể cả những tiểu thuyết khoa học viễn tưởng cũng bắt đầu từ cuộc sống, nhưng được thể hiện theo cách riêng. Bút kí, phóng sự là chuyện thật, người thật, cũng là những gợi ý rất cần cho nhà văn. Tôi thấy, với một nhà văn có tài, và chuyên nghiệp, thì điều gì xảy ra xung quanh, họ cũng biết cách để đưa vào tác phẩm của mình. Tôi đặc biệt thích Murakami, và thấy ở con người này ngoài chuyện đó là một nhà văn có tài, chuyên nghiệp, ông còn là một người dấn cái đời mình tới cùng với những điều mình thích (từ cách sống cho tới cách trở thành một nhà văn lớn). Cách nhìn nhận thực tế, qua những chiêm nghiệm riêng, làm thành tác phẩm. Rất gần đời sống nhưng lại không những không tầm thường hóa văn chương,mà mỗi tác phẩm đều mang những triết lý riêng, sâu sắc.
PV: Nhân nói về việc chọn lựa chi tiết thì có một điều chúng ta cần phải bàn là sự trường hơi trong sáng tác của các nhà văn. Rất nhiều tác giả xuất hiện rất rực rỡ và tắt ngay. Một phần có phải vì họ thường chỉ diễn đạt qua kinh nghiệm của cuộc sống hàng ngày, với những chuyện có ít nội dung, và những vấn đề nhỏ nhặt mà ít nghĩ đến thân phận con người, với những điều lớn lao. Điều đó mới nghe thì thấy thuận, hợp lý nhưng ngẫm kỹ rõ ràng rằng nếu một nhà văn có tài, một nhà văn “tinh” thì có thể từ một câu chuyện của một người, của một cá nhân họ có thể khai thác và viết nên tính cách của một dân tộc. Như vậy chi tiết đã trở thành linh hồn của một tác phẩm văn học. Chị suy nghĩ gì về vấn đề này?
NGUYỄN THỊ THU HUỆ: Câu hỏi của chị cũng có thế coi là câu trả lời luôn rồi. Nhưng tôi thì thấy khác. Tôi không bao giờ nghĩ to tát chuyện có nhà văn bừng sáng lên bằng một vài truyện ngắn hay cuốn tiểu thuyết, mấy bài thơ rồi tắt vì điều này điều nọ… Cuộc sống thời nào cũng ngồn ngộn chất liệu, một chuyện “nhỏ xíu” như người ta đánh bạc cả triệu đô rồi bị bắt, rồi bị xử theo tội đánh bạc nhưng không ai hỏi là người đấy lấy tiền đâu mà đánh bạc, truy nguồn gốc xuất xứ thu nhập… cho đến những chuyện lớn lao hơn như cây cầu Văn Thánh suốt ngày sửa… bằng nhiều nghìn tỉ… Nếu gọi để cần có những tác phẩm đề đời, tôi thấy chất liệu thời nào cũng nhiều. Thời chiến tranh có chất liệu thời chiến tranh. Thời bình có chất liệu thời bình. Murakami viết "Biên niên kí chim vặn dây cót" có chương về thời chiến, nhiều chương về thời bình, sao hấp dẫn và đa chiều tư tưởng đến thế? Mỗi một lần đọc, là một lần hiểu tác phẩm một khác? Chắc chắn khi Murakami viết, ông không hằm hằm hạ quyết tâm là phải viết cho ra một tác phẩm kiệt xuất hay phải thấm đẫm tinh thần dân tộc. Ông sống tới cùng, viết tới cùng, và được đón nhận ở khắp thế giới. Vậy thì, cái gì làm ra một tác phẩm lớn? Tôi thấy, duy nhất, để có một tác phẩm lớn, chỉ cần một điều. Là có nhà văn lớn. Vậy thôi. Khi có một nhà văn lớn, với vốn hiểu biết về vấn đề họ định viết như lịch sử, chiến tranh, môi trường, hay thế giới động vật… cộng thêm một cái nền căn bản là sự suy luận mọi chuyện qua đời sống chính cá nhân họ, những thăng trầm, được mất… họ cũng tự biết sẽ lấy gì, bỏ gì, tưởng tượng ra những gì từ hiện thực cuộc sống…
PV: Và tôi thấy rằng chính bạn đọc trong cách thưởng thức văn hóa của mình cũng có cách lựa chọn chi tiết riêng. Nếu người nào thích thể loại thông tấn, họ sẽ chọn những tác phẩm ngắn, nhiều sự kiện, dễ đọc, mất ít thời gian hơn là đọc những câu văn khi thì dài quá, khi lại ngắn quá, khó đọc, tốn thời gian. Chị có lo sợ khi văn chương đang đứng trước những thử thách của nhiều bạn đọc như vậy không?
NGUYỄN THỊ THU HUỆ: Tôi không sợ vì tôi tin là nếu có những tác phẩm văn học hấp dẫn, hay (bất kể ở thể loại nào) thì người đọc sẽ đón nhận. Nếu nhà văn mà sợ những trào lưu mới của công nghệ thông tin như vậy, chắc không ai muốn viết tiểu thuyết nữa. Tôi thì thấy ngược lại. Công nghệ thông tin càng phát triển, thế giới càng phẳng, thì nhà văn càng có cơ hội viết ra những tác phẩm lớn. Ít ra, là nhà văn thời này sướng hơn các thế hệ nhà văn trước là luôn được cập nhật thông tin, và khi viết về một vấn đề gì, có thể tìm hiểu khá rõ và tương đối chính xác về vấn đề đó, chứ không thiếu và đói thông tin như ngày trước. Quanh đi quanh lại, chỉ là vấn đề. Đấy là, nhà văn có ngồi vào bàn, một mình, và viết hay không.
PV: Ngay cả bản thân người sáng tác như chị, khi văn học đòi hỏi nhiều thời gian hơn để suy nghĩ, để trằn trọc trước con chữ thì chị cũng lại dành cho nó ít thời gian, mà lại ưu ái hơn với điện ảnh. Điều đó chắc không phải là niềm đam mê văn chương đã không còn nhiều?
NGUYỄN THỊ THU HUỆ: Đam mê thì luôn có, nhưng viết là một thử thách. Có lúc, viết được những điều mình muốn viết, mà đọc thấy cũng được. Có lúc, viết được những điều mình muốn viết, nhưng đọc chưa thấy được, thế là cất kho. Giản dị thôi mà chị, nhà văn là tác phẩm, mình yêu thương nó, trân trọng nó, thì mình sẽ được nó yêu thương và trân trọng lại. Tôi không thấy vội lắm, khi chưa thật thích chính những dòng của mình viết ra, thì chưa công bố thôi. Còn điện ảnh, cũng là một thứ tôi yêu thích, sau văn chương. Nhưng không phải vì yêu cái này mà bỏ cái kia. Dạo này, tôi thích viết tản văn. Có lẽ, ý thức công dân đang trỗi dậy quá mạnh (cười) trước những “thói hư tật xấu” và những điều đẹp đẽ mất dần đi của xã hội, nên quay sang viết tản văn, tạp bút cho bớt “bức xúc”. Nhưng văn chương là tri ân tri kỉ, không bao giờ bỏ nhau hết.
PV: Có ý kiến “Sau 20 năm, bước đầu giới nghiên cứu đã có sự đánh giá thành tựu văn học đổi mới, nhưng nói chung nó chưa nhiều và chưa định hình, các giá trị văn học cũng chưa rõ ràng. Nếu nói văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới đang ở đâu thì rất khó, có lẽ nên nói chúng ta đã bằng lòng hay chưa mà thôi. Tất nhiên chưa thể bằng lòng được”. Sự thực là chúng ta đã đạt được những thành tựu rất lớn trong văn học, văn học hoàn toàn mở cửa, và nhà văn được tự do sáng tạo, từng vận hội của đất nước đều được văn học phản ánh. Và các giá trị văn học đã được bạn đọc, nhà phê bình định giá. Ý kiến của chị như thế nào?
NGUYỄN THỊ THU HUỆ: Cũng không cần phải lo lắng nhiều về chuyện này. Vì tôi thấy những nhà văn chuyên nghiệp và một số bạn viết mới đang ngày đêm viết. Tôi không quan tâm lắm chuyện tác phẩm khi ra đời là thế nào mà quan tâm chuyện các nhà văn vẫn đang viết, vì nghề viết là sự sáng tạo cá nhân, âm thầm. Điều đó cho thấy nền văn học Việt Nam đang phát triển, và hứa hẹn sẽ có tác phẩm lớn. Riêng tôi, văn học Việt Nam thời nào cũng có những tác phẩm giá trị. Thước đo những giá trị đó nằm ở mỗi cá nhân người đọc, chứ không phải xã hội hay một tổ chức nào đó quyết định.
PV: Khi chị đọc các sáng tác của các bạn viết trẻ hiện nay, điều chị vui mừng nhất là gì, và điều chị lo âu nhất là gì?
NGUYỄN THỊ THU HUỆ: Tôi có lẽ là người chăm mua sách và hào hứng đọc sách của các cây viết mới (Không hẳn trẻ tuổi, nhưng mới xuất hiện) không giống như một số người chỉ đọc tác phẩm của những nhà văn tên tuổi, hay sách dịch mà biết chắc đó là sách hay. Tôi thì đọc tất. Trên báo, trên những tuyển tập… Đơn giản là, mình hãy mua sách của mọi người, âm thầm làm một độc giả của những người viết ngày càng hiếm của văn chuơng. Tôi vui, vì cứ vài ngày ra hiệu sách, là thấy có sách mới. Hay, dở, chưa biết, nhưng biết ngay là có thêm người viết mới, hoặc một bạn văn có sách mới. Còn lo âu, tôi không lo âu gì với bất cứ ai mới viết hoặc vẫn viết, vì cứ viết được là tốt. Lo là lo người viết và yêu việc viết ít đi thôi. Riêng về chất lượng mỗi tác phẩm, tôi không bao giờ lo cho người viết, vì độc giả mỗi người một gu thẩm mĩ, một quan niệm. Không thể lấy tư tưởng, ý thích của người này áp đặt cho người khác. Vậy thì với người viết, cứ viết những gì họ tâm đắc, viết tới tận cùng con người họ. Còn được bạn đọc yêu quý hay ghét bỏ, là chuyện khác… Người đọc bây giờ đa dạng, thông minh và sòng phẳng. Không ai định hướng được họ. Vậy thì tôi đâu cần phải lo cho người viết - đồng nghiệp của tôi điều gì. ..

THU HUYỀN (Theo báo Văn Nghệ Trẻ)

Thứ Ba, 26 tháng 3, 2013

TRẢ LỜI ĐỘC GIÁ VNEXPRESS


Hàng trăm câu hỏi đã gửi đến, trong đó có những độc giả chỉ đơn giản là bày tỏ lòng ngưỡng mộ hoặc hỏi thăm về cuộc sống riêng của nhà văn. Tuy nhiên, do quá bận duyệt kịch bản phim và bị cuốn hút bởi sự kiện World Cup, đặc biệt là trận đấu giữa Brazil - Anh hôm thứ sáu, Thu Huệ chỉ kịp trả lời một số câu hỏi mà chị tâm đắc nhất.
Nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ.
Nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ.
- Hạnh phúc của một nhà văn, theo chị là gì? (Hoang John)
- Với tôi, điều hạnh phúc nhất là khi mình viết ra một tác phẩm và nó đến được với người đọc, rồi được chấp nhận.
- Chị được coi là một phụ nữ có tất cả: sắc đẹp, thông minh, thành đạt trong sự nghiệp... vậy bản thân chị có thấy mình còn thiếu thứ gì không? (Nguyen Chau Anh)
- Tôi cảm thấy mình còn thiếu nhiều thứ lắm, ví như ngoại ngữ, vi tính. Một anh bạn nhà văn nói với tôi rằng, thế kỷ 21 mà không biết hai thứ này thì coi như mù chữ, vậy mà tôi thiếu đúng hai thứ ấy.
- Nếu có một điều ước cho riêng mình, chị sẽ ước gì?(Le Thu)
- Có một cuộc sống bình yên và nhiều nghị lực để vượt qua những khó khăn trong cuộc sống, làm chỗ dựa cho người thân.
- Lúc nào thì chị cảm thấy cô đơn? (Hoang John)
- Khi tôi không làm được một điều gì đó hoặc không làm cách nào để giúp đỡ một người gặp khó khăn, tôi cảm thấy bất lực và cô đơn kinh khủng.  
- Những cô gái trẻ Việt Nam bây giờ cần phải làm những gì để vừa làm tròn bổn phận trong gia đình, vừa làm tốt công tác xã hội? (Linh Trang) 
- Các bạn cần phải tranh thủ óc sáng tạo của tuổi trẻ để học, khám phá và tìm hiểu cuộc sống. Tôi cho rằng điều gì cũng có thể làm được. Điều khác nữa là chúng ta phải chấp nhận và đối mặt với khó khăn trong cuộc sống, bởi sẽ không ai cứu được mình bằng chính bản thân mình. Tóm lại, để vừa làm tốt công việc ngoài xã hội, vừa làm tròn bổn phận gia đình, các bạn hãy yêu cuộc sống mà cha mẹ đã ban tặng và hãy sống tận cùng với nó.
- Động lực nào thúc đẩy chị viết được nhiều tác phẩm hay? (Thao Huynh)
- Tôi luôn cảm nhận cuộc sống từ bề chìm của nó, tức là luôn khám phá đằng sau mỗi con người, mỗi số phận cuộc sống nội tâm của họ. Trong khi tìm tòi, tôi chỉ có một cách chia sẻ duy nhất là viết, bởi văn chương đối với tôi là người bạn chung thuỷ có thể chia sẻ với mình nhiều điều.
- Tôi đã đọc các truyện "Mùa đông ấm áp", "Hậu thiên đường", "Nước mắt đàn ông"... và rất hâm mộ chị. Theo chị, muốn làm nhà văn có cần năng khiếu không? (Thao Huynh)
- Tôi cho rằng làm bất cứ nghề gì cũng cần phải có tài, dù là ít. Riêng với những người làm nghệ thuật thì yếu tố tài năng rất cần thiết. Bên cạnh đó một thứ bắt buộc phải có là kiến thức trang bị về nghề nghiệp của mình. Tuy nhiên, có tài mà không có học thì đến một lúc nào đó cũng sẽ hết tài, hoặc những sản phẩm tinh thần của họ sẽ chỉ là sự lấp lánh của bản năng mà thôi. Tài năng cần được nuôi dưỡng bởi kiến thức học hỏi và kinh nghiệm cuộc sống.
- Chị nghĩ thế nào về hiện tượng văn học Việt Nam hiện nay: quá nhiều truyện ngắn, hơi ít tiểu thuyết và truyện vừa. Nội dung và thủ pháp của các truyện ngắn nghèo nàn. Phải chăng các nhà văn hiện nay không sống hết mình với nghiệp văn chương?( pcnguyen) 
- Ý kiến này chỉ đúng một phần, các nhà văn lớn tuổi vẫn đang ấp ủ những tiểu thuyết dài, có thể họ sẽ in hoặc chỉ viết cho bản thân mà không công bố. Trường lực viết của các nhà văn lớn tuổi rất dồi dào nhưng vẫn bị hạn chế vì họ không có điều kiện sức khỏe và vật chất tốt để yên tâm viết và viết. Còn đối với thế hệ các nhà văn trẻ, vốn thực tế cuộc sống xã hội không nhiều, công việc hàng ngày bận rộn nên truyện ngắn lúc này là hợp với họ. Tôi không cho rằng các nhà văn hiện nay không sống hết mình với nghiệp văn chương, bởi vì đã là người cầm bút ai cũng muốn hết mình, chỉ có điều bạn đọc cảm nhận đến đâu trong xã hội phát triển mạnh như hiện nay, khi mà con người được tiếp cận với nhiều phương tiện hiện đại thì văn hóa đọc cũng phần nào bị giảm đi. Theo tôi, đó là nguyên nhân mà người đọc bây giờ không hào hứng lắm với những tiểu thuyết dày như ngày xưa.
- Dường như trong những truyện của chị không có bóng dáng của sự yêu thương trong gia đình? (Tran Thu Thuy)
- Có bóng dáng yêu thương trong gia đình của tôi đấy chứ! Như truyện ngắn Biển ấm chẳng hạn, trong đó nếu không có lòng yêu thương thì nhân vật chính sẽ không biết đi đâu, về đâu. Còn rất nhiều truyện khác của tôi cũng nói về tình yêu, lòng vị tha, bởi ai cũng cần có tình yêu thì mới làm được mọi việc.
- Dường như chị dị ứng với những người đàn ông ăn xôi hoặc phở xào (trong truyện "Hậu thiên đường"). Theo chị, một người đàn ông thanh lịch nên ăn bún? (Trọng Dũng)
- Không thể đánh giá qua việc người ta ăn xôi, ăn phở hay bún, có thể họ ăn cơm nguội cũng được, nhưng đó là bằng tiền do chính họ làm ra chứ không phải đi ăn ké của người khác, nhất là phụ nữ..
- Người ta thường nói "hồng nhan bạc mệnh" và "chữ tài gắn với chữ tai một vần". Là người có cả tài lẫn sắc, chị nghĩ thế nào về quan niệm trên? (T.Hang)
- Tôi cho rằng hai quan niệm trên không hẳn đúng như vậy. Có lẽ những phụ nữ đẹp khi gặp khó khăn thường bị chú ý hơn người bình thường. Bởi vậy, người ta hay gán rằng là đó là hồng nhan bạc mệnh. Trên thực tế, có rất nhiều người đẹp thành đạt cả trong sự nghiệp lẫn hôn nhân.
- Chị có thích bóng đá không và thích đội nào nhất? (Tran Le Huyen Thoai)
- Bóng đá cũng là niềm đam mê lớn đối với tôi. Những đội bóng nào bộc lộ tài năng, chơi đẹp và không tính toán luôn làm tôi ngưỡng mộ. Trước đây, tôi mê Italy nhưng ở World Cup lần này họ hơi nhu nhược. Trước đây, tôi cũng mê Pháp nhưng bây giờ thì thất vọng hoàn toàn, hình như họ mải tận hưởng vinh quang mà quên mất cần phải giữ nó như thế nào. Bây giờ thì tôi ủng hộ Brazil và Mỹ. Trong trận Brazil - Anh, ở 5 phút cuối, tôi đã chui vào gầm bàn để nghe đồng nghiệp bình luận mà không dám xem vì sợ đội bóng mà mình yêu mến sẽ thua.

NHÀ VĂN CỦA NỒNG ẤM TÌNH YÊU


QĐND - Là một gương mặt tiêu biểu của văn xuôi nữ sau Đổi mới, Nguyễn Thị Thu Huệ ngay từ những truyện ngắn đầu tiên đã nhanh chóng xác lập được vị trí của mình trên văn đàn. Không thuộc số những nhà văn viết khỏe, Thu Huệ chỉ viết khi câu chuyện đã đầy ắp trong tim óc cần hiện diện ra thành câu chữ. Vì thế, hơn hai mươi năm cầm bút, số lượng truyện ngắn chị viết không thật nhiều. Chúng được tập hợp trong sáu tập: Cát đợi (1992), Hậu thiên đường (1993), Phù thủy (1995), Nào ta cùng lãng quên (2003), 37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ (2010) và gần đây nhất là Thành phố đi vắng (2012). Chị cũng là nữ nhà văn đã tạo dựng được phong cách riêng và đặc biệt có duyên với các giải thưởng: Giải nhất cuộc thi sáng tác về Hà Nội, Giải nhất cuộc thi Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Tặng thưởng Hội nhà văn với tác phẩm Hậu thiên đường.
Bước vào thế giới truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ là bước vào lãnh địa rất riêng tư của phụ nữ. Ở đó, tác giả xây dựng bức tranh đời sống nhiều màu vẻ nhưng mối quan tâm lớn nhất, trở thành tâm điểm hút xoáy những vấn đề khác chính là phụ nữ, những vấn đề xoay quanh số phận người phụ nữ. Rất hiếm khi nam giới trở thành nhân vật chính trong truyện ngắn của chị (Những đêm thắp sáng, Nước mắt đàn ông, Minu xinh đẹp là những ngoại lệ hiếm). Quan tâm đến phụ nữ, Thu Huệ nhận ra: Trong xã hội hiện đại, nỗi ám ảnh phái yếu không phải là tiền tài, danh vọng, không phải là bổn phận và trách nhiệm, càng không phải những giá trị đạo đức mà xã hội mặc nhiên khoác lên vai họ. Nỗi ám ảnh đau đáu, duy nhất chính là tình yêu. Những nhân vật phụ nữ của Thu Huệ dù già hay trẻ, dù đã yên ấm gia đình hay đang đổ vỡ, dù thiếu nữ hay thiếu phụ đều có một điểm chung nhất, đó là những tâm hồn khát yêu, luôn luôn tất tả trên hành trình khám phá, kiếm tìm tình yêu, dâng hiến, hy sinh  cho tình yêu đến kiệt cùng tuổi trẻ và hạnh phúc. Đó là cô bé mười sáu tuổi, chập chững trên đường kiếm tìm hạnh phúc, chập chững nhưng đầy “liều mạng”, mê đắm trong thiên đường với người đàn ông hay văng tục, người có mùi khai của nước đái trẻ con (Hậu thiên đường), đó là cô gái mới lớn “to gan”, bỏ nhà vượt mấy trăm cây số đến với người đàn ông hơn mình mười hai tuổi vừa bỏ vợ (Biển ấm)… Điều thú vị là nhà văn phát hiện ra không chỉ những người phụ nữ tỉnh táo mới đắm đuối vì yêu mà những người dở tỉnh dở mê, dở âm dở dương cũng lạc lối trong vườn yêu muôn nẻo (Cõi mê; Nào, ta cùng lãng quên).
Đi sâu vào thế giới phụ nữ, truyện ngắn Thu Huệ còn là những phát hiện về tổ ấm thời hiện đại. Bằng sự tinh tế, bén nhạy của trái tim phụ nữ đa cảm, chị nhanh chóng nhận thấy những vết rạn trong tế bào xã hội. Không đề cập tới những sóng gió và biến cố nhưng truyện ngắn nào cũng mở ra hình ảnh một tổ ấm không vẹn nguyên. Những gia đình tan vỡ, những ông bố, bà mẹ ngoại tình, những người mẹ đơn thân, những đứa trẻ bơ vơ, cô đơn và cô độc. Mỗi gia đình nhỏ như con thuyền tròng trành trong bão, có thể lật úp, có thể rạn vỡ, có thể tan tác mà rất ít khả năng giữ được nguyên lành. Đó có phải là hệ quả tất yếu của xã hội hiện đại ngày càng đầy lên những giá trị vật chất mà nghèo nàn, thảm hại những giá trị tinh thần. Hay phải chăng, nó phản ánh sự đổ vỡ không cách nào cứu vãn trong tâm hồn những người giữ lửa. Khi người mang trọng trách giữ lửa (người mẹ, người vợ) trong mỗi gia đình nhận ra mình không có lửa, không còn lửa hoặc ngọn lửa mình đang nắm giữ chỉ là ảo ảnh, họ không tiếp tục cam chịu  giữ gìn biên giới của gia đình truyền thống mà lao vào cuộc kiếm tìm hơi ấm cho riêng mình. Tổ ấm biến thành tổ lạnh. Những nếp nhà hiện đại hoang vu trong ồn ã tiếng người. Đáng giận, đáng thương hay đáng trách? Thu Huệ không trả lời. Mỗi truyện ngắn là một vết cứa sắc vào lòng độc giả, đầy gợi mở suy tư về thân phận con người, đặc biệt là phụ nữ.
Viết về phụ nữ hiện đại với những vấn đề đương đại nhưng Nguyễn Thị Thu Huệ sử dụng lối viết khá truyền thống. Phần lớn truyện ngắn của chị có kết cấu chặt chẽ, lô-gích, có thể xáo trộn về thời gian, không gian nhưng vẫn dễ dàng tìm ra trật tự tuyến tính của cốt truyện. Tính cách nhân vật khá nhất quán, số phận nhân vật thường đặt trong mối quan hệ nhân quả, có thể đoán biết trước. Sự hấp dẫn của truyện ngắn Thu Huệ nằm ở lối viết đằm thắm, nồng nàn hơi ấm nữ tính. Mỗi truyện như một lời tâm tình, chia sẻ hướng tới những tri âm. Sôi nổi, nồng nàn, nồng nàn ngay cả trong hoàn cảnh cay đắng và chua chát nhất là giọng điệu chính chi phối sáng tác Nguyễn Thị Thu Huệ. Giọng điệu ấy khiến truyện ngắn của chị dù đề cập đến nhiều đổ vỡ, mất mát nhưng vẫn là sợi dây neo đậu niềm tin vào hạnh phúc và tình yêu.
 Năm 2012, Thu Huệ “trở lại” văn đàn với tập truyện ngắn Thành phố đi vắng. Tác phẩm ghi dấu những đổi thay rõ nét trong đề tài và lối viết của chị. Ở tập truyện mới nhất này, Thu Huệ quan tâm nhiều đến vấn đề đô thị hiện đại. Thay vì kiếm tìm tình yêu, tập truyện là những ưu tư về tình người ngày một cạn kiệt thậm chí biến mất trong đô thành hiện đại. Tình người băng giá, sự vô cảm, nỗi bất an và cái chết trở thành những ám ảnh trong đời sống đương đại. Lối viết khách quan, trung tính, tiết chế cảm xúc tối đa, mỗi truyện ngắn trong tập sách mới như một bản tường thuật đời sống. Ở đó nhà văn chỉ làm nhiệm vụ duy nhất là tường thuật trung thành, không tham dự, không mách bảo người đọc.
Hơn hai mươi năm cầm bút, Nguyễn Thị Thu Huệ luôn là cây bút nữ không (chưa) mệt mỏi trên hành trình sáng tạo.
Thạc sĩ NGUYÊN HƯƠNG

ĂN DÈ NGÀY TẾT


Cách đây không lâu, có nhà báo hỏi tôi “Chị thấy sao, khi có ý kiến muốn chập hai cái Tết làm một” Tôi nghe điều đó trong sự ngỡ ngàng, thảng thốt. Cái gì vậy? Bỏ Tết cổ truyền để có nhiều thời gian làm việc, để tăng trưởng kinh tế…Ôi trời ơi. Những ngày tháng này, điều tốt đẹp đang dần biến mất, nếu có thì phải ẩn nấp khá kỹ bởi cái ác, sự vô cảm mọc nhanh như cỏ dại sau mưa. Con người đang mất dần sự thanh thản, bởi nỗi lo cơm áo gạo tiền, kế sinh nhai. Đám đông ngày càng đông mà  nụ cười thì khan hiếm dần, thay vào đấy là nỗi nhọc nhằn vặn nát những khuôn mặt không giấu được. Còn gì vui nữa, khi hơn ba trăm ngày ai cũng hớt hải. Từ những em bé ngủ gật đến trường, đến những đám đông ngày càng đông trên khắp con phố lặn lội mưu sinh. Một năm có năm trăm hay một nghìn ngày cũng không đảm bảo người ta có thể sung sướng hơn, đất nước hứa hẹn giàu lên nếu toàn dân đi làm thêm vài ngày!


Ăn dè ngày Tết

Tản văn của NGUYỄN THỊ THU HUỆ

                 Vào những ngày rét giữa mùa đông, nhiệt độ loanh quanh từ 10 đến 12, liên tục không khí lạnh tăng cường, đường phố không vì thế mà lạnh. Các loại cúc, thược dược, hồng phai đồng tiền cẩm chướng tươi thắm sắc màu đằng sau những chiếc xe đạp của người bán rong lang thang trên những con phố nhỏ trong không gian xam xám. Dọc những con đường từ ngoại ô vào thành phố, những vườn cúc, vườn hồng ươm vụ quan trọng nhất trong năm, bắt đầu nở, chuẩn bị vào Tết. Tết cổ truyền như một món quà quý, một phần thưởng cho tất cả mọi người một năm đầy ắp những sự kiện, vui buồn, biến cố.

            Từ nhỏ, tôi và những người thân luôn dùng món quà quý giá này một cách ý nghĩa nhất, vì mỗi năm, chỉ có một lần thôi. Tôi đặc biệt thích những ngày cuối cùng của năm. Thay áo cho ngôi nhà mình sống bằng những chậu hoa mới, những khung cửa thay màu sơn hay treo lại những bức tranh, kê lại bộ bàn ghế. Đôi khi, chỉ là dịch chuyển, nhưng cảm giác khác ngày hôm qua đã là mới. Mua sắm là thứ khiến tôi phấn khích, cho dù không phải mua cho mình. Bọc đồ mang lên nhà bác, bọc đồ kia gửi tặng nhà người thân, rồi quần áo mới cho mẹ, cho con, cháu. Bạn bè nhắn tin chíu chít “Năm nay đào phai Lai Châu hay Sapa đấy”, “Chị mua miến đặc biệt cho em, rượu nếp cẩm nữa, mai lấy nhé” rồi mùng ba xem phim rạp này, mùng bốn ăn cơm nhà kia…

            Càng ngày, tôi càng nâng niu những ngày Tết. Kẽo kẹt qua gần bốn trăm ngày làm việc không nghỉ, bỗng nhiên, được tặng những ngày thong dong, chậm rãi, không gì đáng giá hơn. Vì quý và vô giá nên tôi tiêu dùng rất dè xẻn. Những cuốn sách mua nhiều trong năm, một nửa chưa đọc vì thiếu thời gian, sẽ đọc nơi quán cà phê ngoài vườn, dưới những gốc cây và gió lạnh phủ lên mặt luôn gây cảm giác phấn khích, nhất là vào những ngày Hà Nội cực thưa vắng người. Những bộ phim hay nhất của năm, còn nhiều lắm, chưa xem, nay mang ra, nhấm nháp để thấy một đời sống đặc biệt nhưng rất gần, giúp mình ngộ ra nhiều điều mà chỉ có ở người khác mới tác động đến. Những cuộc gặp bạn bè, biết là người tri ân tri kỷ nhưng có thấy hàng ngày đâu, giờ là lúc ngồi bên nhau, hít mùi café quyến rũ, tranh nhau nói những điều không sợ nói ra,gặp kẻ tâm xấu, khoái cảm với cái ác sẽ suy diễn làm đau lòng mình.

            Trước Giao thừa, thường cảm giác phấn khích xâm chiếm thì sang năm mới, sự thư thái bình yên như làn sương, hơi lạnh không khí, phủ trùm lên tất cả. Từ nhiều năm rồi, sáng mùng một Tết, tôi hay lang thang trên các con phố cũ của Hà nội. Lương văn Can, Hàng Đồng, Hàng Mã…thưa vắng, heo hút dài như thể sau một đêm, người ta đã kéo nó ra. Ngồi uống chén trà mạn của bà cụ giữa phố vắng, hơi mát lành của ngày đầu tiên thấm li ti trên da, ngắm những nụ cười của người lạ đi ngang qua…

            Cách đây không lâu, có nhà báo hỏi tôi “Chị thấy sao, khi có ý kiến muốn chập hai cái Tết làm một” Tôi nghe điều đó trong sự ngỡ ngàng, thảng thốt. Cái gì vậy? Bỏ Tết cổ truyền để có nhiều thời gian làm việc, để tăng trưởng kinh tế…Ôi trời ơi. Những ngày tháng này, điều tốt đẹp đang dần biến mất, nếu có thì phải ẩn nấp khá kỹ bởi cái ác, sự vô cảm mọc nhanh như cỏ dại sau mưa. Con người đang mất dần sự thanh thản, bởi nỗi lo cơm áo gạo tiền, kế sinh nhai. Đám đông ngày càng đông mà  nụ cười thì khan hiếm dần, thay vào đấy là nỗi nhọc nhằn vặn nát những khuôn mặt không giấu được. Còn gì vui nữa, khi hơn ba trăm ngày ai cũng hớt hải. Từ những em bé ngủ gật đến trường, đến những đám đông ngày càng đông trên khắp con phố lặn lội mưu sinh. Một năm có năm trăm hay một nghìn ngày cũng không đảm bảo người ta có thể sung sướng hơn, đất nước hứa hẹn giàu lên nếu toàn dân đi làm thêm vài ngày!
            Ngỡ ngàng thảng thốt không tin là đến một ngày, có những điều nhân bản từ nghìn đời của cả một dân tộc được coi là vĩnh cửu bỗng bị mang ra xem xét để xóa sổ

            Không còn Tết cổ truyền – đào sẽ là loại cây làm hàng rào như tầm xuân, hoa giấy. Mai vàng miền Nam sẽ thế nào nhỉ? Khó làm hàng rào vì nắng quá, hoa không được chăm sẽ héo rũ. Đường phố vẫn nhuốm màu chì xám xịt của những ngày cuối đông. Triệu triệu người lầm lụi hay hớt hải như vài trăm, vài nghìn ngày vẫn thế ..Không còn Tết Cổ truyền, ông bà, cha mẹ bớt được gặp con cháu xum vầy xúng xính quần áo mới chúc Tết ông, Tết bà mạnh khỏe bách niên giai lão…

            Không còn Tết cổ truyền là mất món quà quý giá. Chúng ta có thể kiếm được rất nhiều tiền. Tiền có thể giúp chúng ta đổi căn nhà, mua thêm cái xe hơi…nhưng mãi mãi, chúng ta không thể mang tiền đó đi mua được sự bình yên trong vòng tay, nụ cười của người thân, sự thong dong tĩnh lặng nhìn lại mình sau một năm lao động. Trẻ con không được khoe áo mới, các gia đình không được ngồi quanh mâm cơm để kể cho nhau đủ mọi chuyện, hay cùng nhớ về ông bà. NHững người con làm ăn xa quê sẽ miên miết đi để vài năm một lần, cuống cuồng nghỉ phép về thăm mẹ, mắt mẹ mờ chẳng thấy rõ mặt con. Hương sẽ bớt thơm trên những bàn thờ tổ tiên, bánh chưng, bánh tét chỉ có ý nghĩa như bánh khúc, bánh bao, bánh giò…

            Tôi không dám nghĩ thêm về những điều vô giá, nhân bản của người Việt từ nghìn đời sẽ mất..

            Không còn Tết cổ truyền, chúng ta sẽ dần lạc lối,  để rồi, chỉ có đi và vĩnh viễn không trở về.   
           
                                                                Những ngày cuối năm Nhâm Thìn.

Thứ Tư, 20 tháng 3, 2013

VĂN CHƯƠNG LÀ MỘT CÕI RIÊNG





Nhà văn thường sống trong hai cõi. Một cõi thực, là đời sống hàng ngày với  hỉ nộ ái ố như bất cứ ai đang sống. Một cõi mộng, là thế giới riêng. Ở cõi riêng đó, người viết mới trở về với sự xâu xa nhất của bản thân, để hiểu mình đang nghĩ về điều gì và có ước mơ hay đau đớn vì  điều gì.
Mỗi một tuổi, một thời điểm, cõi riêng của tôi lại đổi khác. Mười năm trước, tôi cảm nhận cuộc sống này theo hướng mở. Tiếp nhận, khám phá và tận hưởng ngày tháng khá thoải mái. Thoải mái thời gian. Thỏai mái tâm trạng và ít phải chịu sự bất lực khi muốn làm điều gì nhưng không làm được.
Bây giờ, mọi chuyện đã khác. Tôi thích nghi dần với  sự bất lực, rồi nó trở thành nỗi  ám ảnh, và ngầm chảy trong những truyện ngắn mới viết. Không còn là những lát cắt, những câu chuyện rất cụ thể về những con người cụ thể như “Hậu thiên đường”” Phù thủy”, nhân vật của tôi ngày hôm nay ở góc này, góc khác là đại diện cho một số đông, mang những dấu ấn của thời tôi đang sống. Vẫn là những số phận, những mối quan hệ gia đình cha con, ông cháu, nhưng đằng sau đó, là một tâm lý đám đông khá phổ biến với  sự bế tắc trước một đời sống lộn xộn, các ác hoành hành, buộc người tốt đôi khi thành vô cảm.
Vô cảm là mầm mống của sự hủy diệt.
Xã hội những năm 2012 dẫn người ta đi rất xa với bản chất cần có của con người, đấy là sự bình yên.  Sự bất an xâm chiếm tôi mỗi ngày, và nặng dần lên đến mức tôi luôn hoang mang, truy vấn tìm nguyên nhân tại sao đời sống lại ra thế này? Nhìn bề nổi, cuộc sống tiện nghi hơn, nhu cầu sử dụng vật chất tăng bội phần, cảnh vật, con người có vẻ “nguyên vẹn”, mỗi khi mình đi xa về. Những con phố, bà bán nước chè, anh bảo vệ chung cư, hay hàng quán quen. Thế nhưng, nhìn kỹ thì không phải vậy.  Người ngày càng đông, nụ cười ngày càng hiếm . Phận người vô cùng mỏng. Mọi sự đã thay đổi từ trong máu, trong tinh thần của mỗi cá nhân, theo những cách ứng xử khác nhau. Mọi người tự tăng dần sự tự bảo vệ, tăng dần những lo toan, và lạnh lùng bởi họ mải mang vác ngày tháng với những khó khăn mỗi ngày một nặng.              
Tôi càng ngày càng hay tự hỏi mình, suy cho cùng, đời một con người từ lúc sinh ra, đến già rồi cuối cùng cũng bệnh tật mà chết. Tại sao người Việt nam  chúng ta phần lớn không yêu quý ngày tháng sống trên cõi đời này của mình? Phần đông mọi người mất thời gian vào rất rất nhiều chuyện vô ích. Không biết ở đâu trên thế giới có kiểu đàn ông nhậu nhẹt buổi trưa nhiều như Việt nam? Ăn trưa để chiều làm việc tiếp nhưng phải có bia, rượu? Xong rồi ngủ trưa say sưa. Chiều ngất ngư ra vẻ làm việc để đợi tới hẹn, ra hàng bia nhậu tiếp. Ở đâu trên thế giới mà cán bộ đi làm ít người đọc sách, xem phim như ở Việt nam? Thường mọi người  làm nghề gì, quan tâm đúng nghề đấy, ngoài ra, với những lĩnh vực khác là câu trả lời, không có thời gian. Nơi những phòng chờ ở sân bay, hay trong những chuyến bay, hiếm thấy người Việt nam đọc sách. Hiếm thấy người Việt nam bình tĩnh đợi máy bay dừng hẳn mới đứng lên lấy đồ và chen lấn chui ra…Khắp nơi, khắp chốn, người Việt hình như chưa quen với phương tiện sinh hoạt tiến bộ, để chỉnh đốn sự văn minh vốn không được nhà trường hay gia đình quan tâm dạy dỗ từ nhỏ, để tới ngày, không biết phải ứng xử với đời sống văn minh thế nào.
Những chuyện đâu đâu nếu chỉ nghe, để biết rồi cho qua, có lẽ không làm mình buồn đến thế, ngẫm ngợi trong cay đắng đến thế. Một ngày, người Việt nam chết vì tai nạn giao thông, tai nạn lao động, đâm chém nhau và nhiều lý do khác chắc đến trăm người. Những tin lãng xẹt trên báo như chìm tàu, xe đổ đèo mất phanh không hôm nào không có đến nỗi, việc người chết thành bình thường. Mạng người Việt vừa mỏng, vừa rẻ. Nghĩ mà chạnh lòng, xót cho cái xứ này, khi gần đây nhất, một vụ tai nạn ở Bỉ, chiếc xe bị nạn trong đường hầm, làm hơn hai chục người chết. Tin đó chấn động thế giới, và các nguyên thủ quốc gia đã đau xót gửi lời chia buồn đến nước Bỉ và gia đình những ngừoi thân.
Ở Việt nam, sao người ta chết càng ngày càng nhiều và dễ dàng thế?
Tôi bây giờ nhìn cuộc sống này khác xưa. Mọi chuyện dường như chảy ngược vào trong, buồn bã, hoang mang lo lắng là cảm giác thường trực. Và tiếc. Đứng ở trên cửa sổ phòng làm việc, nhìn người đi nườm nượp, kẹt xe tối ngày thấy ai cũng được sở hữu một cuộc đời, có sự giỏi giang sức khỏe  như nhau, vậy mà số người làm được những điều giá trị, có ích cho nhân loại ít quá. Gốc rễ từ đâu nhỉ? Từ sự giáo dục của gia đình và nhà trường không khuyến khích mỗi cá nhân phát triển cái tôi, phát huy sáng tạo? Học thì rập khuôn, làm theo mẫu và lấy điểm số cao làm chuẩn cho một học sinh giỏi? Bố mẹ thì theo nhà trường, con điểm kém, hay có trò nghich gì đấy, cô gọi tới phê bình là về đánh mắng con…Cứ như thế, một đời sống tin thần mất cá tính bao trùm lên từng thế hệ. Để rồi, nhãng đi vài chục năm, chúng ta có một đám đông không bản sắc, không làm nên những giá trị hữu ích mang tính đột phá cá nhân.
Tâm lý đám đông là bộ mặt hôm nay của xã hội,  nhưng phủ trùm lên nó là sự vô cảm, với mầm mống của những điều ác đang lên ngôi và dần loang như một vệt dầu tràn mang tính hủy diệt.

Thứ Ba, 19 tháng 3, 2013

THÀNH PHỐ ĐI VẮNG



                   đu người, nhảy lên chiếc xe bus số 300 trôi êm trên những phố dài. Bên ngoài, người xe lướt mê mải. Khách đông, ngồi kín ghế. Người đứng vai kề vai, lặng ngắt, bàn tay nắm vào cọc sắt, hoặc dây kéo thẻ từ trên xuống. Người ngồi cứng đơ như tượng. Mỗi khi xe phanh gấp, tượng người bê tông đó nghiêng nguyên khối, sau đó về trí cũ.  Mắt ai cũng nhìn vào một khoảng trống trước mặt, đem cho người đối diện là họ đang suy nghĩ rất sâu về một vấn đề gì, tất cả đều mang khuôn mặt ơ hờ, bình thản. Bắt gặp ánh mắt muốn nói chuyện của cô, lập tức những tia lạnh từ mắt người đối diện bắn ra  “Đừng có làm phiền tôi”

         Ngày ấy. Thường vào cuối tuần, cô và anh, nhảy lên bất cứ xe bus trước mặt. Cảm giác đi thật nhanh, rồi dừng đánh phịch đột ngột làm ai cũng dúi dụi, bất ngờ hít sâu mùi của người bên cạnh. Va đập, hít ngửi nhau xong, hai người cười. Khách trên xe cũng cười. Những chuyến đi một mạch qua nhiều bến đỗ, phố dài, phố ngắn, nơi ùn kín xe, đứng chờ cả nửa giờ, rồi đến đích. Và quay lại đường cũ, trên xe vẫn là cô, anh và bác tài xế. Bác biết, họ thích nhìn ngó, cảm nhận nơi chốn này, háo hức trên con đường quen đã bốn năm không cần nhìn cũng biết có cái hố, hay khoảng nào cần chậm lại vì bên hông, có con hẻm nhỏ, con nít rất hay chạy cùng trái bóng để sang bên kia chơi. Mỗi ngày một chuyện, cô chú biết không, hôm qua xe bus của thằng cháu tôi, đỗ một chỗ đợi khách, có bà tự lao vào đuôi xe, nằm trong đấy. Đúng lúc thằng bé nổ máy chạy đi thế là cán nát bươm. Chết kiểu gì như tự tử ấy. Mà ác thiệt. Quyết tự tử được thoát cái thân mình, nhưng hại thằng bé mới vào nghề được vài tháng.  Từ lúc cán chết người, nó điên luôn, nằm la hét, cào cấu trong phòng tạm giam ấy. Lại còn chuyện tối qua, lúc tôi chạy qua ngã 9 gần khu bờ sông, có con bé giận mẹ, cắm dao trong túi quần đi tự tử.  Lên xe, ngồi cái chỗ cô đang ngồi ấy,   khóc rống lên, lảm nhảm nói, chửi bố mẹ không cho tiền mua xe máy.  Mọi người mệt, bảo nó khóc ít thôi, nghe  cứ như đang đi xe tang.  Nó điên lên, rút ngay con dao  đâm bị thương mấy người rồi nhảy xuống lao đầu vào ô tô tải đi cùng chiều với xe này. Chết luôn. Giá rau muống lên rồi, mà rau thì toàn hóa chất, đàn vịt nhà tôi, mới hôm kia lăn ra chết vì ngộ độc rau muống, vì nó ăn sống. Mình ăn chín hơn nó, với lại mình to bằng năm mươi lần con vịt, ngấm độc cũng dần dần, không chết tươi như vịt.  Mỗi lần còn hai vị khách đặc biệt, chu du thành phố bằng phương tiện công cộng, ông tài thành hướng dẫn viên, nói đủ thứ chuyện không đầu không cuối.  Thời gian đầu, cô dịch cho anh nghe. Hai năm sau, anh vừa nghe vừa đóan. Đôi khi, anh hiểu thành một chuyện khác.  

                              ***

Từ ngày cô một mình quay lại thành phố này, bác tài nào cũng như người máy, thành thạo vài động tác đơn giản, chính xác, lịch sự. Khách quẹt thẻ, im lặng tự vào chỗ ngồi. Khách trả tiền mặt, bác nhìn thẳng, tay chìa đưa vé, nhận tiền bỏ vào cái hộp nhỏ bên cạnh. Mỗi lần khách chìa tay ra, thấy đầu bác hơi cúi nhẹ, có thể hiểu đấy là chào. Hôm nay cũng vậy. Hết một chặng đường dài, trên xe, chỉ còn cô và bác. Cô lên ngồi ghế thường dành cho phụ xe, nhìn bác chằm chằm, như đánh thức góc quen ngày xưa. “Cháu mới đi nước ngoài về, cũng hơn một năm rồi, bác còn nhớ cháu không” “Dạ, nhớ” “Bác vẫn vậy, có vẻ mập hơn. Con gái bác tốt nghiệp đại học, đã đi làm chưa?” Người máy lái xe có nhận ra người quen cũ, nghe hỏi thăm về con gái, không chút động đậy biểu lộ xúc cảm là sao giữa trăm nghìn người lên xuống xe mỗi ngày, sau hơn một năm, có người vẫn nhớ là ngày xưa, bác rất căng thẳng chuyện con gái có xin được việc làm hay thất nghiệp giữa một nơi có cả triệu sinh viên không có việc làm. Miệng người máy lái ôtô nhả chữ đều đều, lịch sự “Cảm ơn cô, cháu nó đã đi làm” Cô biết mình đang vấp vào một điều gì đấy, bao trùm lên tất cả. “Cháu mới về, muốn hỏi bác vài chuyện, cháu thấy sao sao ấy” Cô khóat tay, nhăn nhó, diễn tả khó khăn. “ Không còn vẻ náo động của những phố mua bán, người đi lại sắm đồ. Không thấy các cửa hiệu mở cửa suốt đêm cho khách thập phương. Tất cả có gì đấy như vừa được siết lại về trật tự. Tiếng động cũng khác xưa.”

Chiếc xe bus chứa 60 chỗ đã kín khách, chạy chiều ngược lại. Cô hỏi. Tự trả lời. Lại hỏi. Mức căng thẳng dâng cao khi những lời nói như đập vào tấm kính trong suốt, cách âm ngăn giữa cô và bác tài. Đến bến cuối. Khách sau cùng nhảy cái huỵch xuống đất, biến mất trong đêm đen, lái xe quay sang nhìn cô, xám xanh, không động đậy. Ánh mắt quét lên toàn thân cô hơi lạnh của thép. Sự khó chịu, khó hiểu  toát lên khuôn mặt râu cạo nhẵn, trơn bóng mồ hôi dầu, càng đáng sợ khi thành phố về đêm, đường vắng, nhập nhòa những ghế trống,  vài dây nắm tay đung đưa đung đua. Ánh mắt phát đi  thông điệp “Cút ngay. Tao hết sức chịu đựng sự lảm nhảm của mày rồi”

 Không gian lặng ngắt. Cảm giác tang tóc, âm phủ từ bên ngoài, luồn qua khe cánh cửa lên xuống đã tự động sập lại, đem mùi chết chóc nhuốm dần lên tất cả khoang xe. Thông điệp lại phát tiếp từ lái xe “Ra khỏi xe, không tao giết mày”

Cô lạnh, rồi nóng. Một cơn giận bùng lên. Xông vào  lái xe, người chắc nịch như đổ bê tông, giật mạnh ngực áo “Ông nói đi. Sao ông không muốn nói chuyện với tôi. Chúng ta có quen nhau, và ông cũng nhận ra tôi? Có cái gì ở đây mà mọi người nhìn nhau như những bóng ma?” Lái xe dùng bàn tay to, chắc dày, nắm lấy tay cô, giằng mạnh ra, nhìn cô lạnh lẽo “ Đừng chọc giận tôi, phiền đấy.” 

                                         ***

  Những ngày cuối tuần xưa. Anh và cô chân dép xỏ ngón, quần sooc lang thang những phố đi bộ. Có khi ngồi bệt bên hàng cháo huyết, phở cuốn đủ lọai chấm nước chao cay, ngậy mùi bơ lạc không đứng lên được vì chuyện của bà bán hàng về cách làm tương chao, cách hãm huyết heo sao cho thơm, mềm. Giờ có đi cả phố, cũng không thấy những chiếc xe bán trái cây gọt sẵn thơm mát trong những bịch nilông trắng, thò ra mấy cái que nhọn dùng để xiên khi ăn. Phố dài sau mưa, mùi hơi mát,  hăng hăng lá cây giập vỡ, không còn loáng thoáng mùi trái cóc chín, hay mùi hủ tiếu bốc ra trong chiếc xong đun sôi sùng sục nằm trong chiếc xe đẩy khắp con đừong rọp bóng cây. Không còn sự lộn xộn của cuộc sống thị dân bao đời vẫn thế. Phố vốn dài, giờ thêm lạnh. Người vẫn đông, nhưng hết âm thanh, như diễn viên phim câm. Con phố ngày xưa, anh và cô ôm vòng giữ ngang hông nhau, sà vào hàng chè thập cẩm, cho chúng tôi tất tật, thập cẩm của thập cẩm xem nó ra cái mùi gì. Chủ quán cười toét, tung cái ly lên cao, rồi tóm vào chân ly như diễn viên xiếc, nhón mỗi loại chè đủ màu xanh đỏ hồng vàng đen trắng, xúc thêm muỗng đá bào như mảnh kính vụn phủ lên, múa một vòng rồi đưa ra hai cái ly óng ánh màu cho khách.

Ngày cuối tuần nay, Thành phố như người máu lạnh, vô cảm dửng dưng. Thật lạ khi phát hiện ra đời sống của một nơi chốn lại có thể tác động đển cảm xúc của mình đến thế. Mọi thứ chung chung như sự hỗn độn, tiếng động của sự sống và mùi hương lại làm ta xúc động,  khoáy sâu vào tận những góc riêng tư. Những tế bào trong cô quẫy  mạnh, như bung ra vì bị cầm tù dưới làn da. Chúng phá phách muốn tìm nguyên nhân tại sao mọi âm thanh của nơi cô và anh quen thuộc, yêu quý này đột ngột biến mất. Thèm nghe tiếng người lào xào ngày xưa luôn làm cô bức bối, đau đầu, nay nhớ nao ruột vì nó biến đâu mất rồi.  Những quán bia hơi vắng, vài người khách nghèo, uống cốc bia với miếng xoài xanh cho nghiền cơn thèm. Không còn “một hai ba, một hai ba, một hai ba, dô ô ô ..”. San sát nhà hàng đóng băng. Khăn bàn phủ trùm không vết nhăn, ố bẩn của đồ ăn nước sốt bám vào không thể tẩy trắng. Bát đĩa sạch, muì mốc từ những tấm thảm chùi chân. Phục vụ đứng vơ vẩn như người được giao nhiệm vụ nhưng không có việc để hoàn thành, ngơ ngác buồn vu vơ  như mắt những con bò đói bị cột mỗm nằm dưới gốc cây.



                                       ***





               Chỉ quán Sushi Nhật là còn ran ran “irashaimase… Insamase… irashaimase…” phục vụ, nấu bếp chào đón khách.  Những chàng trai khéo tay đứng sau quầy, cuộn susi các loại, trong những bóng đèn hắt thẳng, nhoẻn cười  đem cảm giác đã gặp được người,  điều mà suốt  tuần nay, cô đi tìm không thấy. Cơm lươn nướng (món này cô ăn giúp anh) và bình sakê nóng. Tiếng chào khách lan từ cửa chính, tới tận cùng chỗ bà béo đứng rửa bát hút sâu cuối nhà. Những chàng chai cắm cúi bên lát cá hồi, hay cuốn cơm bằng những tấm nan gỗ sau đấy lấy lá rong khô bọc, miệng không ngớt... Cô chìm ngập trong tiếng người hỗn độn thủa nào, dù công suất giảm tối đa, lời qua đáp lại của những vị khách ngồi dọc hai bên quầy bar, những bàn độc lập nghe rõ hơn, bởi sự chậm rãi của từng câu nói. Nhìn xoáy vào cô quản lý chính, người duy nhất cũ nơi nhà hàng này, cô cười thân thiện “Cô có thể ngồi với tôi vài phút, tôi muốn hỏi cô chuyện này” “Dạ” Cô quản lý lịch sự ngồi ghé nửa mông lên chiếc ghế cao, nhìn cô trìu mến, chờ đợi. “Tôi có việc phải đi xa thành phố này ba năm” “Dạ” “Khi về, đã một tuần nay, tôi vẫn không định nghĩa được, có điều gì đấy đã thay đổi, rất lớn, và tất cả cùng thay đổi” “ Dạ” “ Hồi trước khi đi, tôi và bạn trai thường ăn ở đây, lúc đấy cô đã làm quản lý, cô có nhớ tôi không” “Dạ, tôi có nhớ chị. Bạn chị người Thụy Điển” “ Đúng rồi” Chồm người về phía quản lý ngày trước nhanh mồm nhanh miệng, luôn hỏi cô, là anh nhà chị có hài lòng với món lươn nướng hôm nay không, hoặc món ngao hấp kiểu Pháp, có bị thiếu vị gừng, giờ vẫn ánh mắt thân thiện, nhưng chỉ thấy dạ nhẹ nhàng. “Tôi thấy mất tiếng động. Xe máy, ô tô cũng ít. Nhiều nhà hàng, hay cửa hàng thời trang lớn đóng cửa, vỉa hè thoáng đãng. Nhìn chung, là rất thích, rõ ra sự thay đổi, nhưng có điều gì đấy, giống như cả thành phố này đang đi vắng, hoặc sắp dọn đi, và ai cũng trong tư thế chuẩn bị” “Dạ” “ Tôi muốn cô nói cho tôi lý do, là tại sao – cô khoát tay ra bên ngoài, qua tấm kính lớn, ngoài kia là khu

đại lộ, với ngã bảy đường lớn, đèn cáo áp chạy dài, những tòa chung cư cao, sáng trắng đèn đang mờ mịt trong màn mưa – tại sao tất cả lạnh cóng thế” “Dạ”

          Cô hỏi mãi, nói mãi, về sự im lặng đáng ngờ của thành phố, giống như chết hết rồi, người xe lướt đi dưới một cõi âm như những bóng ma. Đáp lại, chỉ là ánh mắt ấm áp, đôi môi thoa lớp son bóng mỏng lịch sự, duy nhất một câu “Dạ”.

          “Sao cô không trả lời tôi” Cô mở to mắt, trừng trừng nhìn. Quản lý hơi giật mình, thở dài khe khẽ, rồi nhẹ nhàng, thả giọng đều đều, khác hẳn sự háo hức nói chuyện ngày xưa: “Dạ. Em không biết những điều chị nói, chính xác là cái gì. Có thể, chị ở xa về, nên thấy khác lạ, so với ngày chị đã ở đây. Nhưng với em, thì không. Mong chị thông cảm. Gần mười năm nay, từ ngày có quán Sushi này, Em tới nhà nhà hàng là 7h45 sáng, và rời đây về khi 11 giờ đêm. Sáng nào em cũng đi một con đường bằng taxi kí hợp đồng tháng. . Đường về buổi tối thì ngồi xe hơi của nhà chồng rước. Thực sự, là em không thấy ngày hôm nay khác một ngày nào đấy của ba năm trước”

          Rượu sake đắng. Mắt cô nhức buốt, giật sâu trong hốc. Biểu hiện của huyết áp đang dâng cao do thần kinh bị kích động. Gượng cười nhạt, chào quản lý đang đứng lên đi ra xếp bàn cho sáu người khác ướt lướt thướt vào cô lao ra đường đi như chạy trên dãy phố bán hoa, gần một cổng phía nam khu chợ. Một đứa trẻ khoảng mười tuổi mặc cái váy hồng, đính những viên đá cũng hồng mắt nghếch nhìn mấy tấm biển hiệu trên cao, vấp mạnh, ngã chúi xuống. Khi ngã, người nó đổ đúng vào chân cô. Cô vội cúi xuống nâng lên, xuýt xoa. Bất ngờ, một bàn tay phụ nữ bóp lấy vai cô, cứng như gọng kìm siết đau nhói. Buông tay ra khỏi con bé, cô nhăn nhó vì đau, ngẩng nhìn. Người phụ nữ cao gầy, tóc uốn từng lọn bóng mượt, chiếc váy đen vải mềm ôm sát thân người gọn không tích mỡ, Chanel No.5 thoang thoáng quyến rũ. Ánh mắt bà sắc như mũi tên bắn vào cô, lạnh ngắt thông điệp “Đi ra chỗ khác ngay” Cô bủn rủn chân tay, thấy lại ánh mắt tài xế xe bus. Con bé im lặng, nhìn nhanh vào mắt cô vẻ biết ơn, cắn chặt môi nhịn đau, lồm cồm ngồi dậy, bước chúi đi. Bàn tay trắng nuột thon dài người mẹ nắm chặt khủy tay mũm mĩm của nó, kéo giật về phía trước. Đầu gối nó chảy máu, nhưng cả hai đều không để ý, đi nhanh như trốn chạy.  Cô ngồi bệt xuống đất, tuyệt vọng nhìn theo. Con bé đau một chân, vấp váp theo mẹ đang sải những bước dài. Chợt nó quay lại, nhìn cô, nhỏen cười rất vội. Giơ bàn tay không bị mẹ nắm ra sau, vẫy vẫy chào, khuôn mặt bừng sáng. Cô bật khóc. Cơn tủi thân, sự cô độc giữa chốn đông người và ý thức những điều mất mát, tốt đẹp đã tuột mất trong đời làm cô không đứng dậy nổi. Mắt nhòe nước, nên không thể thấy người mẹ khi biết con gái quay lại vẫy tay nhỏen cười với người lạ, rất nhanh tát đánh bốp vào bên má bầu bĩnh của cón bé, giật mạnh tay để hai người đi nhanh hơn. - Chanel No.5Chanel No.5 Chanel No.5

                                                  ***

Cửa sổ phòng khách sạn ở trông xuống ngã sáu.

Ngày còn anh, tối muộn hai người sau khi làm xong việc ở máy tính, hay vẽ được những phác thảo cho cuốn truyện trẻ con mới, hai người tự thưởng cho mình bằng cách đứng bên cửa sổ, uống bia lạnh với thịt nguội. Dòng nứoc men ngọt ngào thấm qua cổ, trôi xuống như tắm mát cho cả hai lá phổi. Nhiều lần, cô và anh tranh cãi là tại sao uống bia lạnh, không mát ruột mà lại mát phổi. Quá phản khoa học nhưng mà rõ ràng bia trôi đến đâu, phổi mát đến đó.  Dưới đường, loang loáng ánh đèn, tiếng còi xe, tiếng nhạc đủ thể loại hắt ngược lên. Tiếng ca cải lương não nề từ chiếc xe bán băng đĩa dạo. Tiếng trống đập rầm rầm laọi nhạc hiphop đang thịnh hành của lũ trẻ phát ra từ hàng thời trang TTT, hay tiếng hủ tiếu gõ, tiếng rầm rầm nẹt pô ôtô độ phân khối lớn. Thỉnh thoảng, leo lắt tiếng ca buồn ngang ngang ma quái Khánh Ly hát nhạc Trịnh Công Sơn “ Em còn nhớ hay em đã quên,nhớ Sài gòn mưa rồi chợt nắng. Nhớ phố hương xưa, nhớ đôi bàn chân, nhớ bạn bè gọi bè gọi nhau xa vắng”  thấp thoáng bay ra từ hàng treo biển cắt tóc gội đầu nhưng chủ yếu khách vào chỉ để nằm phưỡn bụng cho tiếp viên chân trắng thẳng tắp nặn trứng cá và ngoáy tai.

Hai người ôm ngang lưng nhau, bia thấm ngọt lành. Bình yên. Giữa muôn vàn tiếng động. Anh thì thầm” Anh yêu nơi này quá” Cô gật, tóc bay lòa xòa, mắt lấp lánh hạnh phúc “Hai đứa mình may. Em cũng yêu nó”  Khoát tay, vòng quanh quầng sáng phía dưới những con đường, cánh tay khua cao như muốn ôm trọn tất cả những gì xung quanh nơi hai người đứng vào lòng. Vẻ mặt mãn nguyện đem cho anh cảm giác nếu ăn được “nó” cô sẽ ăn hết để giữ hết vào  lòng.

          Ba năm qua rồi, giờ cô đứng một mình nơi cửa sổ, nhìn xuống. Không có những bức phác thảo rải kín mặt giường. Không quần áo bừa bãi vắt khắp nơi. Không có anh. Không có bia. Phòng lạnh, ngăn nắp. Giá vẽ mini gập nguyên dựng góc cửa. Bảng màu và những ống sơn gọn gàng im lặng chân giường. Chỉ có cặp giấy trắng, mấy thanh than đen để trên bàn. Một bức kí họa dang dở. Khuôn mặt con bé nhỏen cười, bím tóc buộc cao. Cô vẽ lại nó trong nỗi ám ảnh về nụ cười duy nhất từ ngày quay lại nơi này.

Một con chó Nhật lông xù trắng rũ rượi đang đứng giữa đường, toàn thân hướng về phía bên kia đường nhưng mặt lại ngoảnh ra sau, cãi bà ch đang ngó tứ phía để sang đường. Con chó không hề quan tâm đến ba bề bốn hướng ô tô, xe máy lao phầm phập về phía mình, thản nhiên đứng sủa ăng ẳng vẻ giận giữ người chủ giống như nó đang ở trong khu vườn riêng. Cô nhổm người nhìn con chó, nhìn bà chủ mặt tái xanh vì tức nhưng mặt mũi vẫn tỉnh bơ. Người đi đường cũng không bấm còi xua con chó ngang bướng lắm mồm chạy dẹp sang một bên, việc mà cách đây ba năm cắc chắn xảy ra. Có chiếc xe máy đi chậm chở  hai người một nam một nữ đi từ từ tới. Họ mặc đẹp, thanh tú, và nhẹ nhàng, đến sát con chó xù bông, dừng lại, nhìn. Người chủ nhìn hai người trên xe máy. Mặt hai người tỉnh bơ, không biểu lộ xúc cảm. Con chó thì vẫn gân cổ trợn mắt quay lại cãi bà chủ. Cô gái ngồi sau xe chàng trai, bước xuống xe, tới gần bà chủ, nói nhỏ câu gì đấy. Bà chủ luống cuống mất bình tĩnh, nhưng ngây độn, pha sự thất thần, kinh hãi. Cô gái nói xong,  tiến tới con chó. Bằng một động tác nhanh, như tia chớp xoẹt ngang trời đêm, cô gái đá một phát thẳng vào giữa mồm con chó. Không những con chó câm miệng, mà nó nằm vật ra đất, cổ nghẹo sang một bên, hai mắt trợn trừng. Cô gái cúi xuống, bế con chó thoắt mềm oặt trong mấy phút, lả như một đống bông ngoài hai cái mắt trợn ngược trừng trừng chưa kịp hiểu chuyện gì xảy ra, đặt vào hai cánh tay của người đàn bà đứng chết cứng. Cô lại nói nhỏ điều gì, có vẻ như, bà đi nhanh sang đường ngay, không thì bà cũng ăn một phát giày của tôi như con chó yêu kiều ngu dốt này. Người đàn bà bừng tỉnh, ôm con chó chết mềm trên tay chạy băng qua đường. Cô gái trở lại vẻ lịch sự ban đầu, nhẹ nhàng trèo lên xe máy của chàng trai,  hoà vào dòng người rất đông, lặng lẽ trôi.

          Cô chồm người, muốn bay qua khung cửa. Người nóng bừng, rồi run rẩy vì lạnh. Người đàn bà ôm con chó đi trên vỉa hè, lúc ẩn lúc hiện cạnh những gốc cây to, đen thẫm. Rồi biến mất.

          Ngã sáu người và xe miên miết trôi.

                              ***

Ngồi trước ông bác sĩ, mặt đầy da bóng, hàng ria tỉa đều vắt ngang đôi môi dầy, hàm răng bọc sứ trắng bóng, thỉnh thỏang lóe ánh vàng của một chiếc răng bên phải, bọc vàng thật nguyên c hiếc. Cô nói không dừng “Tôi không thể hỏi ai, về sự đổi khác, tất cả những người quen cũ, đều đi đâu hết. Ngay cái khách sạn trước đây tôi ở, chủ vẫn là người đấy, phòng tôi ở vẫn phòng đấy, nhưng họ không nói với tôi về sự thay đổi. Thế là tại sao? Ông cũng đã chữa bệnh đau đầu cho tôi, cũng quen biết tôi ngày xưa, ông nói đi”  Bác sĩ nhìn thật thẳng và sâu, hoàn toàn không hiểu cô đang nói gì.  Run rẩy vì bị kích động, cô khởi động Ipad, vào mạng internet, chìa ra “Ông đọc đi. Tất cả các báo đều viết về những người chết trong ngày. Ông hiểu không. Chết do nhảy cầu tự vẫn. Chết vì đổ xăng vào người rồi đốt lên. Chọc nhau một câu trong quán nhậu là vớ dao đâm chết người.  Chết do lật xe, cả một đống người không nhận ai ra ai nữa…Một ngày, có tới gần trăm người chết. Tin này đứng cạnh tin giá vàng không dao động, vẫn nằm ở ngưỡng cao hay đang mùa hoa tulip tím ngập tràn Hà Lan…Tại sao mọi người nói về chuyện cướp, giết tỉnh bơ như vậy?” Ông bác sĩ vẫn ngơ ngác nhìn cô, như đang nghe một ngoại ngữ lạ. Bấm điện thoại nội bộ, ông gọi một nhân viên vào, nói nhẹ nhàng “Cô nói khách đợi tôi thêm 30 phút nữa. Ca này nặng hơn dự kiến,  phải kiểm tra thêm trước khi quyết định” Cô y tá hiểu ý bác sĩ sau câu nói ngắn gọn, ánh mắt sâu vời vợi đầy ẩn ý. Y tá  gật đầu lùi ra, sau khi quay nhìn cô, ánh mắt xa xôi, không lộ cảm xúc.

               Ngoảnh ra nhìn quanh phòng khám rộng, giật mình không hiểu câu “ca này nặng hơn dự kiến” dành cho cô hay  ai. Phòng trống. Cô điên lên, đấm mạnh tay xuống mặt bàn “ Ông vừa nói gì?” Ngồi thẳng người trên ghế, bác sĩ nhìn chăm chú vào hình một xác chết, trên trang báo điện tử, bình thản như nhìn những cánh rừng hoa tuy lip tím ngắt, họăc ảnh một người đàn bà đi cạnh một con ngỗng với chú thích “Người bạn thân thiết  của bà chủ”. Chồm người lên, sa sả “Tại sao người ta không can một thằng đàn ông ghen với vợ, đổ xăng lên người cô ấy và đốt cháy? Tại sao một thằng con lại đánh cha đẻ mình đến hấp hối? Tôi không hiểu. Thành phố này không còn tiếng động. Không còn tiếng những người bán dạo, tiếng rao hàng trong những con phố” Bác sĩ nhìn cô, vô hồn. “Ông có hiểu tôi đang nói là ai cũng sao sao ấy. Có rất nhiều tấm kính chắn mọi người với nhau. Từ ngày tôi quay về, chưa gặp một nụ cười. Duy nhất một cô bé cười với tôi, ngay lâp tức mẹ nó giật đi mất là sao? Có chuyện gì, ông nói đi”

Hôm nay. Năm ngoái.  Cô và anh lang thang một ngày bên Nàng tiên cá. Đan Mạch mùa đông, nhưng hôm nay không có tuyết. Nắng lạnh. Vàng rực bên hồ phủ lên những tán cây. Những đứa trẻ hai má ửng hồng cười toét miệng, chạy ra nhặt trái bóng lăn vào chân khi cô đến bên ghế quán ăn. Xa xa, những ông bố bà mẹ duỗi chân trên đất, nhấm nháp càphê, hay chai. Ai cũng cắm cúi đọc những quyến sách.  Trời càng lạnh, uống bia càng ngọt. Cô chủ quán nói, có món cá đặc biệt, ai đến vùng này đều thử một lần.  Có cặp vợ chồng mặc đồ cưới, xúng xính cô vợ béo tròn tự tin bên chàng chú rể cao nghêu, cười với khách lạ dọc con đường từ nhà thờ, đến quán bia. Đi cạnh là hai người lớn và ba đứa trẻ. Họ nói chuyện và cười với tất cả như thể khách đang la liệt ngồi uống bia đang tới dự đám cưới.  Hai thanh niên trong nhà hàng chạy ra cười tươi  khui những chia sâm panh. Trước mặt mọi người những ly rượu đỏ bọt tràn “Xin mọi người cùng chia vui với chúng tôi. Chúng ta là bạn”  Chú rể mặt vẫn còn những mun trứng cá, ôm cô dâu béo tròn, da lấm tấm tàn hương cùng giơ hai ly sâm panh đỏ lên cao. Lạ, quen, chạm ly chúc mừng hạnh phúc. Họ hôn nhau miệt mài. Một cô bé chừng hai tuổi ngả nghiêng chạy tới rồi tựa cà tấm lưng ấm ngả vào đùi cô, như thể hai người quá quen nhau. Cô cúi xuống. Nó ngước mắt nhìn lên, bắn ra một tràng tiếng bản xứ. Tay giơ con thỏ bông bé xíu có hai cái mắt hồng. Cô đoán, nó đang nói chuyện về con thỏ. Gần đấy, hai người đang uống bia, chắc là cha mẹ của bé, cười gật đầu với cô. Người cha tóc vàng, ánh mắt ấm áp lấp lánh cười nhún vai, hai tay giơ lên như muốn nói là hãy xem, con bé đang kể một câu chuyện rất riêng. Cô bé nói hết câu chuyện rất riêng ấy  xong, lấy bàn tay bé xíu vít mặt cô xuống thật thấp, áp cái miệng xinh uớt mềm mùi trái cây lên hai má cô, rồi cho con thỏ bông mắt hồng hôn lên đúng chỗ nó vừa đặt môi lên đấy. Ánh mắt nó nghiêm cẩn, thành kính, miệng lẩm bẩm điều gì giống như dặn dò con thỏ. Rồi nó vẫy bàn tay bé xíu chào cô, chạy ra bãi cỏ nắng vàng lọt qua tán cây sồi già, hắt xiên một đường dài, nằm bò dạy con thỏ tập đi. Anh vòng tay ôm gọn cô trong lòng. Gió ràn rạt thổi,  tê phủ khắp toàn thân cô nóng ấm. Nhắm mắt, nuốt trọn không gian, thời gian, hơi ấm từ vòng tay anh trùm lên cô.

           Bây giờ. Ở nơi chốn của mình, sau ba năm trở lại, hai mắt nhòe nước, bàn tay với những ngón dài,  nổi trên mu bàn tay da trắng xanh những cái gân chuyển sang màu xanh tím ôm chặt lấy khuôn mặt, cô khóc nức nở

          Bác sĩ nhìn đồng hồ. Không còn vẻ lịch sự với người quen, với bệnh nhân, mà với một người cần phải tỏ rõ thái độ. Cô vẫn sốt ruột bắn ra những câu hỏi. Bác sĩ trước như không thấy, giờ thêm việc như câm, tỉnh bơ không quan tâm tới vẻ  bấn lọan của cô bởi những câu tại sao. Những ngón tay đầy đeo chiếc nhẫn vàng trắng có đính kim cương lấp lánh, hí hoáy viết vào cuốn sổ y bạ mới “ Nhập viện. Phòng 309. Chuẩn đoán bệnh: Tâm thần giai đọan 2”  

                                       

       ***

          Chàng trai Thụy điển xuống sân bay Tân sơn Nhất vào một chiều cuối mùa mưa. Mịt mùng nước dăng thành những tấm nan thủy tinh trắng dày rơi chéo xiên tạt phải tạt trái.  Thành phố phủ một màu xám xanh, ủng sũng nước. Những tán cây cổ thụ ngả rạp trong gió mưa. Người và xe lướt êm trên những con đường. Không một tiếng còi xe, tiếng động cơ. Những vỉa hè sạch.

          Đường phố dài. Mưa đầu phố mịt mù thế, cuối phố khô hanh hao. Nhảy xuống khỏi chiếc taxi ướt sũng sạch bóng, chàng bước đi trên đường hút dài, hàng cây sao thẳng tắp. Chàng vừa kết thúc một dự án 3 năm ở một đất nước châu Phi,  xa nơi chốn này đúng năm năm. Ngày kết thúc Dự án khuyến khích trẻ em các vùng nông thôn nghèo có thói quen viết, vẽ và đọc sách, anh và cô, một họa sĩ tự do lên đường sang Châu Phi. Được 2 năm, cô quay lại đất nước của mình, đợi anh hết hạn công việc, về sẽ làm đám cưới.

           Ngã sáu.

 Mặt đất  bóng loáng. Xe miên miết trôi. Người miên miết đi. Phòng khách sạn năm nào cửa sổ trông xuống các ngả giao cắt, loáng ánh đèn. Chống tay ngây nhìn mọi vật chuyển động, tiếng nước tí tách chảy nhẹ trong phòng tắm thơm như cô đang đứng giũ tóc dưới nước năm nào. Ngày ấy. Sau một tuần lang thang ở một tỉnh miền núi dạy trẻ em tập vẽ, tập xem và nhận xét về những bức tranh trong một khu trường cấp một xa trung tâm thành phố, hai người về khách sạn. Nước ấm, hương tinh dầu sả trùm mái tóc dài cô gái hai mươi nhăm tuổi thơm da mùi người trẻ, họ yêu nhau như vừa xa rất lâu, chứ không phải vừa cùng nhau đi suốt chặng đường dài. Tiếng nước cũng tí tách như hôm nay. Tất cả mọi chuyển động dưới ngã sáu như ngày ấy. Không gian mát lành mùi lá cây giập vỡ như ngày xưa.

          Và cô từ buồng tắm đi ra.

          Vòng tay ôm lấy anh, rúc mặt vào góc cổ dưới vành tai anh hít nhẹ nhẹ.

          Anh đứng yên. Biết mình vừa đi một chuyến rất xa, và luôn ngóng ngày quay lại nơi chốn yêu quý này. Giờ thì anh đã ở đây, còn cô thì đi vắng. Thành phố bên dưới kia cũng đi vắng rồi.  Anh sẽ đứng thế này, để đợi đến ngày mai, khi bình minh lên, ánh sáng hồng hồng một ngày mới bao phủ lên vạn vật, anh sẽ lên chuyến xe bus quen thuộc của họ, tìm cô

Hồi chiều.

Chủ khách sạn lúc mở cửa căn giao chìa khóa phòng này, kèm phích nước, tập khăn bông, bịch giấy vệ sinh, nhìn thật sâu, rồi lôi trong túi áo ra mảnh giấy. Địa chỉ thường trú của cô.

Khu 29, lô E, số mộ 435 -  Nghĩa trang thành phố.

  









                                                                      Tháng 11 năm 2010

                                                                                N.T.T.H