Thứ Hai, 18 tháng 3, 2013

CHÚNG TA CẦN SUY NGHĨ VỀ CHUYỆN NÀY

Bậu cửa sổ bằng gỗ. Thường khi năm mới đến, anh thuê người đến đánh lại vécni cho mới. Giống như khoác thêm tấm áo mỏng, đủ để đẹp mà không khác gì. Chính vì thế lớp gỗ ngày càng bóng và dày, có thể ngồi lên như trên một băng ghế dài chắc chắn.
Từ cửa sổ có thể nhìn thấy rất nhiều chuyện đang xảy ra dưới đường. Bà bán bún riêu cao hơn mét bảy mươi, nặng tám chục ký đang nhặt cho vào mồm những giò tai vụn đầu cuối mỗi khi cắt vào bát bún cho khách. Miệng nhai nhưng vẫn chửi ông chồng hôm qua cá độ bóng đá mất hơn ba trăm tiền lãi hai ngày gánh bún. Ông xe ôm không cần gương sờ sờ lần mò trên mặt nặn trứng cá. Lâu lâu, được viên nào, giơ lên nắng soi.
“Em mang máy tính, máy quay và ổ cứng phim đi”, Hân tháo cái ổ cứng chứa khoảng 200 phim kinh điển của thế giới chất lượng HD mới mua, cho vào cái túi cao thành. Máy quay phim, máy ảnh, máy tính xếp vào vali chuyên dụng của dân làm phim. Phim ảnh là nghề của Hân. Với một kỹ sư dựng phim, rồi chuyển sang quay phim nên phải mang vác những thiết bị máy móc là việc cô rất quen.
Dưới đường, hai cô gái nhảy từ một chiếc xe ôm xuống, chân dài, một cô có vài nốt muỗi đốt còn cô kia dính cái sẹo do bỏng pô xe máy. Cô bị muỗi đốt nói với cô bỏng pô, “Tám giờ tao có sâu, mày chiến đấu một mình, OK?”. “Vô tư đi, nàm bát bún đã, đói dã họng”. Hai chân dài nói ngọng hạ phịch mông xuống hai cái ghế nhựa vuông, quen thuộc nhìn bà béo chan chan múc múc không nói thêm một câu.
“Em nghĩ là em sẽ không nói chuyện của chúng ta với ai. Đề nghị anh cũng vậy. Thiên hạ đang nhạt mồm, có chuyện của mình, ít ra cũng mặn hai ngày”.
Hai cô bỏng pô và muỗi đốt hoạt động ở quán gội đầu thư giãn trong ngõ bên kia đường khoảng ba tháng. Trước đây, đội ngũ này đông hơn, mỗi lần ăn ngồi quây kín bà bún riêu. Cho đến ngày, một khách hàng quen đang thư giãn dịch vụ trọn gói cùng lúc ngoáy tai kèm nặn trứng cá, thả cái phần con người mãn nguyện trong bàn tay và cái miệng xinh xinh của một em nói ngọng thì bà vợ cùng công an phường, trật tự viên hiện ra ân cần đứng quanh… Anh biết chuyện ấy là từ ông tổ trưởng, sau khi gõ cửa trịnh trọng vào nhà, hổn hển kể, lưu loát như thể đã kể đi kể lại ở nhiều nhà khác trước đấy. Mái tóc giả rẽ ngôi thẳng tắp vốn để che cái đầu hói trụi của ông, giờ lệch sang một bên lộ mảng hói bóng loáng như sơn vécni màu vàng. Anh nhón tay khẽ đẩy cho mớ tóc giả khớp lại vào khung đầu của vị quan quyền đang thao thao bất tuyệt với những cú nuốt nước bọt rồn rột. Cứ thế, anh ngồi nghe lúc được lúc không, mắt nhìn suốt vào cái ngõ tối và sâu ở bên kia đường, và nhận ra từ hôm đấy đội ngũ chân dài hết bao vây bà bún riêu mỗi chiều. Thời gian sau, xuất hiện hai em muỗi đốt và bỏng bô.
Anh ngoảnh nhìn về phía cửa ra vào. Hân đã đi, cùng hai túi, một vali to.
Thở mạnh, quay nhìn xuống đường. Nếu ngồi ở đây với kiểu gù gù lưng, sẽ không thấy ai ra vào ở cổng ngõ. Thẳng lưng lên, sẽ thấy những cái đầu và chịu khó khoảng năm phút, thì thấy cả người. Anh thẳng lưng. Rồi đứng lên, chồm người qua lan can gỗ. Cuối cùng thì cũng thấy Hân. Vai một đeo túi, một túi móc vào vali kéo và dừng lại trước một chiếc xe bảy chỗ đen bóng. Cửa mở ra. Rồi tất cả biến mất.
*
“Chúng ta cần suy nghĩ về chuyện này” là câu anh thường nghe từ Hân khoảng ba đến bốn tháng một lần. Đến bây giờ. Sau tám năm chung sống, không hôn thú, không đám cưới, không một bữa cơm thân mật với bạn bè thân hay họ hàng cũng chẳng sao. Lâu nay, họ là một cặp, trai tài gái sắc, có nhiều bạn và công việc ổn định. Tuần nào cũng có những chuyến đi xa, tháng nào cũng có những cuộc nhậu. Nhưng rồi sau mỗi “chúng ta cần suy nghĩ về chuyện này” Hân lại bỏ đi khoảng mười ngày.
Lần này, đã một tháng, Hân chưa về.
Có nghĩa, Hân vẫn đang suy nghĩ về chuyện này.
Không biết, đấy có phải là chuyện Hân nói khi hai người ngồi nhìn biển, trước ngày dọn dẹp ra đi. Lúc nào, sóng vào ra bờ cát cũng là điệp khúc: ầm ầm xông vào bờ, rồi lại rút từ từ đi, sủi bọt trắng cuồn cuộn lao đến rồi lại rút êm. Luôn hứa hẹn một ẩn số trong những con sóng, nhưng lại chẳng có gì xảy ra. Mùi tanh của những tàu bắt cá táp dọc bãi cũng quen. Tiếng gió rít qua tán phi lao bao giờ cũng vi vu réo rắt.
“Anh phải biết, bất cứ gì hở ra là mất. Tại sao anh không giữ?”
Đang vào mùa cá cơm. Ngư dân xối cá từ tàu vào những cái sọt và chất lên xe bò chở đi. Cá rơi vãi trắng đường như vảy bạc bắn ra dọc các lối. Cả anh và Hân luôn say đắm sự trẻ trung nhưng nhàm chán nơi bãi biển hoang sơ chưa khai thác du lịch này. Cũng có vài người tắm, nhưng không phải là khách mà là dân địa phương. Vì thế, họ có thể ngồi thật lâu, như hai kẻ rỗi việc nhất trần gian mà không ai nhòm ngó.
“Ai mà chẳng bị mất một cái gì trong đời. Của đi thay người”, anh trả lời cho có, và hình như nó là câu duy nhất về việc Hân hỏi “Tại sao anh không giữ”. Hôm qua, anh bị mất cái máy tính xách tay. Đơn giản là quên trên ghế một quán bia tươi. Quay đi mười phút, quay lại, máy tính bốc hơi như mùi bia tươi.
“Hôm qua, hai đứa thanh niên đi vu vơ qua cửa hàng bán ga. Thấy không ai trông hàng, một đứa nhảy vào ôm một bình ga rồi nhảy lên xe đứa kia chở đi. Cả ga lẫn bình chỉ ba trăm ngàn. Thế là xã hội có thêm hai thằng cướp. Bình ga rất nặng, khả năng bị tóm rất cao. Nếu bị tóm, sẽ bị đánh, bị nhốt, có khi còn chết trong tù cũng nên”.
Ngoài bãi cá, ông chủ khách sạn nơi hai người ở, gọi váng lên từ một góc bãi cá, “Tối nay hai bác ăn gỏi cá song không? Có một con hơn hai cân đấy, đang giãy đành đạch”.
Anh gật. Hân cười. Ông chủ cao lớn, đen thui, luôn hét thay cho nói như thể xung quanh toàn người điếc, quay đi với con cá đang vẫy đuôi đen bóng trên tay.
“Anh có thấy hiếm khi nào phụ nữ ra đường đeo dây chuyền, hoa tai và túi như ngày xưa. Hở ra là bị giật ngay”
“Thì đói, chúng làm liều. Có của thì phải giữ thôi”.
“Mấy cái bóng đèn cao áp, cột đèn vừa bé vừa trơn, thế mà chúng nó cũng trèo lên tháo được. Hôm qua, bọn đồng nát cắt hết dây thép gai nhà bà bún riêu. Bà ấy đang bảo phải làm rọ sắt may ra không bị cắt”
Hân tiếp tục mạch chuyện về việc, cái gì bây giờ cứ hở ra là sẽ mất.
Hai người đã ngồi cạnh nhau khi cơn mưa đến, rồi đi. Ướt sũng. Chán chẳng ai nhấc người ra khỏi nơi họ đã ngồi xuống. Món gỏi cá song kiểu miền quê đầy ắp cá nhưng thiếu gia vị là thứ họ đã quen. Những chiếc cốc nhựa ố vàng để sẵn cạnh bia hơi đựng trong cái can nhựa giống những can xăng bán lẻ dọc hai bên đường quốc lộ. Chủ nhà cũng đi vào làng hát karaoke với mấy ông lính biển mới trúng đậm mẻ cá.
Khách sạn mini, còn có mâm đồ ăn khô dần vì gió biển và một cái tivi rỉ hoen những nút điều khiển vì muối khuyến mãi tiếng ca đau buồn về kiếp đỏ đen Duy Mạnh. Không một bóng người. Chỉ có những cơn gió lùa qua cửa chính, xuyên qua dãy hành lang dài và sâu rồi chạy ra phía sau, là một rừng phi lao.
Mưa ở biển, hạt to và thưa xối xả tuôn xuống nhưng lại không cảm thấy bị ướt đầm đìa. Chỉ rát dọc lưng. Đôi khi, có một hạt mưa rơi cái bộp giữa hai mắt, nước tràn ra nhòe không thấy gì. Đúng phải một hạt rất to.
*
Hân thường gọi điện hay nhắn tin cho anh sau mỗi lần bỏ đi. Cô nhắc anh những việc như trả tiền đổ rác, điện thoại hàng tháng.
Lần này thì không.
Anh cảm nhận điều khác lạ này sau gần hai tuần. Thường những ngày đầu tự do, anh thấy như vừa bắt được một cái gì đó không cụ thể. Không biết sẽ làm gì với cái mình đang có lúc này, chỉ cảm giác là rung động, chếnh choáng, và loay hoay vào ra vô định. Sau một ngày, khi bữa cơm chiều đến, cái bụng đói nhắc chuyện cần phải ăn, thì mọi thứ trở nên rõ ràng.
Tự do.
Đấy là xem có ai gọi mình ra hàng bia cỏ vỉa hè chiều nay. Nếu không, anh sẽ tự gọi và chỉ ba mươi phút sau, là có bạn nhậu. Bia hoặc rượu trắng là thứ giúp anh quên hoàn cảnh thật, thời gian thật, cảm xúc thật để khi về đến nhà, cũng là khuya. Không có Hân, có nghĩa anh phải mở cửa, bật đèn, tự pha nước, và lại tự tắt đèn, đóng cửa. Thường thì đến ngày thứ ba của tự do, anh bắt đầu nghĩ xem Hân bây giờ đang thế nào. Ý nghĩ chạy qua rất nhanh, và trôi biến vào vô số những chuyện phải giải quyết hàng ngày. Một cán bộ phòng hành chính tổng hợp, rất nhiều việc, viết và ký rất nhiều giấy, đóng dấu và viết phong bì. Có lần, nằm gối đầu lên ngực anh, mắt nhìn qua khung cửa nhỏ để thấy mây đang quấn quanh sườn núi, Hân hỏi “Anh tốt nghiệp đại học Mỹ thuật, đã có tranh triển lãm, sao lại làm chủ tịch công đoàn và trưởng phòng hành chính?”. Anh vuốt tóc cô, dọc xuống sống lưng và dừng lại một bên ngực đầy, thở dài vì cũng không biết bắt đầu từ đâu và kết thúc thế nào để giải thích cho Hân hiểu tại sao anh chọn con đường đó. Hân lại hỏi “Là họa sĩ, sao anh không vẽ nữa?”. Cũng không biết tại sao mình không thể vẽ mỗi khi ngồi trước khung căng toan trắng, những týp màu Hân gửi người mang từ Anh hay Đức về.
Đúng là không phải cứ ai hỏi mình một điều gì của chính mình, mà mình đều trả lời được.
Điệp khúc của những lần bỏ đi rồi về, việc quay lại thật đơn giản. Anh hỏi qua điện thoại “Tối nay đi ăn với nhà chị Thanh nhé, sinh nhật thằng Mít. Em về rồi đi luôn”. Và việc sinh nhật thằng Mít đó đã chôn vùi chuyện họ xa nhau mươi ngày. Lần khác thì, “Nhóm Long mèo đi Tam Đảo, đêm nay chúng mang dê lên núi nướng, em về sớm, khoảng 6 giờ xe chạy” và thế là xí xóa hết trong ánh lửa của những thanh củi phừng phừng cháy để thui vàng cái đùi dê bóng mật ong.
Nhưng những người bạn của anh làm việc đúng chuyên môn với họ.
Anh thì đột nhiên rẽ ngang.
Không bao giờ anh trả lời được là tại sao anh lại rẽ ngang.
*
Sau rất nhiều lần sờ tay lên phím điện thoại gọi Hân, anh đều dừng lại.
Cần phải tính toán trước khi gọi cho Hân lần này. Không phải chuyện Hân có quay về không, mà là chuyện Hân sẽ về, rồi sẽ đi, rồi lại về, và lại đi.
Anh năm mươi ba. Hân bốn mươi. Hai người đều chưa có gia đình con cái trước khi sống tám năm với nhau. Anh cũng đã sống với vài cô trước khi gặp Hân. Hân cũng vậy. Mỗi cuộc tình của anh hay của Hân với ai đấy, thường kéo dài mấy năm. Dăm ba cuộc như vậy, bây giờ là ngần này tuổi, vẫn số không. Cũng chưa bao giờ anh phải nghĩ lâu thế về cuộc sống của chính mình. Anh luôn học giỏi, vào đại học điểm cao nhất khóa, ra trường vào ngay công chức nhà nước. Tám giờ ở cơ quan, anh luôn là người chăm chỉ, không đấu đá kèn cựa và vừa lòng tất cả mọi người cùng gia đình họ. Một ngày đẹp trời, hội diễn văn nghệ cơ quan, ai cũng hát, anh cũng nhảy lên hát cho vui và đoạt giải nhất. Anh tham gia làm kinh tế loanh quanh tăng thu nhập cho cán bộ, vài việc lặt vặt để rồi, khi đại hội công nhân viên chức, họ bầu anh làm chủ tịch công đoàn kiêm trưởng phòng hành chính. Cô bé văn thư tặng anh một biệt danh khá dài, nhưng dễ nhớ nên cả cơ quan gọi anh bằng tên đó: “Anh mayơ xích líp đường sữa xăng xe”.
Những cái khung đã căng toan khổ to khổ bé xếp dần vào góc. Những hộp màu mới nguyên mùi thơm ma quái được đậy nắp rất chặt chống khô cứng. Bút vẽ ngâm vào cái xô đựng xăng. Tranh trừu tượng là thứ có thể vẽ mãi không xong, mà không vẽ gì cũng được. Còn lại mấy cái dở dang, treo lên thấy ấn tượng. Bức tường nào có tranh, bất kể là tranh gì, đều đẹp.
“Chúng ta cần suy nghĩ về chuyện này”.
*
Một năm.
Hai năm.
Năm thứ ba.
Hân và anh ngồi đối diện nhau trong một quán cà phê góc hồ Con Rùa. Hai người bây giờ đều ở Sài Gòn. Rất ít người Sài Gòn bị tuyệt vọng hay thất bại chuyện gì, bỏ ra Hà Nội sống. Nhưng người Hà Nội bế tắc hay muốn thay đổi chính mình, thường vào Sài Gòn, và sống rất ổn.
Khuôn mặt Hân không nếp nhăn. Mái tóc tỉa gọn, Hân bảo để thích nghi với mùa khô đang đến. Anh mập hơn, không thay đổi gì, ngoài việc hút thuốc lá rất nhiều và uống cà phê đen rất ngọt.
Hẹn nhau ra đây, nhưng rồi cả hai ngồi yên. Ba năm đủ xa để không biết hỏi nhau chuyện gì trước, chuyện gì sau. Tám năm sống chung, từng có nhau trong mọi nơi mọi lúc. Thói quen cùng dậy muộn thức khuya những ngày cuối tuần vì một bộ phim mới. Thói quen ngồi cà phê nhìn mãi một ngã tư, có mấy cái đèn báo hiệu giao thông xanh đỏ, trời từ sáng sang tối không chán. Từng nghĩ, tất cả là vĩnh viễn. Từng lầm lũi ô tô chạy trong mưa hun hút đường dài những đêm mùa đông vắng miền Tây Bắc. Từng buộc hai thân xác vào nhau bằng một cái khăn choàng, trên mô tô phân khối lớn mò mẫm leo dốc Tam Đảo đêm mưa mùa đông chông chênh miệng vực.
Đã từng rất nhiều.
Bây giờ thì như hai người quen, không thân không sơ, biết là vẫn tốt với nhau, nhưng không thể hiểu là đây có phải cái người đã từng là máu thịt với mình tám năm.
“Anh vẫn không hiểu, sao ngày ấy em bỏ anh?”
“Em có bỏ anh đâu?”
Hai cốc cà phê đã cạn. Nước lá thơm đặc sản
Sài Gòn được rót đầy. Anh gọi thêm hai ly kem cà phê Hân thích.
“Em yêu anh. Em từng muốn sống đến già với anh”.
Anh lại châm thuốc bằng bàn tay run run, vẫn còn một điếu đang cháy dở gài ở gạt tàn đầy những đầu lọc.
“Anh nghĩ ở tuổi bốn mươi, người phụ nữ muốn thay đổi cuộc sống lắm à?”
Nước mắt lăn nhẹ trên má Hân. Một dòng nhỏ, gọn gàng. Hân là người đặc biệt. Có một cái lúm đồng tiền bên trái, và khi khóc nhẹ nhẹ, thì chỉ một mắt bên phải chảy nước.
Anh dụi điếu thuốc mới châm, hút tiếp điếu dở dang gần hết.
Hân nhìn ra ngoài. Trời chợt tối. Dự báo thời tiết báo có mưa trái mùa. Gió lay nghiêng những cây bạt che nắng. Lá me rụng vàng vỉa hè trước mặt, nhỏ và nhẹ nên không thể bay.
*
“Em không bỏ anh. Em đi vì có còn anh nữa đâu”.
Theo N.T.T.H

"TÌNH" ĐI ĐÂU VẮNG


Nhân đọc tập truyện ngắn "Thành phố đi vắng" của nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ, NXB Trẻ, 2012.
Có vẻ như đó là câu hỏi mà nữ nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ luôn đeo đẳng trong đầu. Hỏi để rồi tự đi tìm câu trả lời, nhưng vẫn chưa có câu trả lời nào thỏa đáng. Dường như, với người phụ nữ viết văn vốn mang trong mình trái tim quá nhạy cảm, đã đi qua nhiều biến cố trong cuộc đời như Nguyễn Thị Thu Huệ, tình đời, tình người là điều chị trân trọng. Bởi trong buồn đau, khổ lụy, không điều gì ngoài tình tin yêu có thể cứu rỗi linh hồn con người...
Nguyễn Thị Thu Huệ viết truyện ngắn có duyên là điều không phải bàn. Đến nay, chị vẫn còn nguyên nét đằm thắm của một người phụ nữ trong cách nhìn cuộc đời. Ở "Thành phố đi vắng", Nguyễn Thị Thu Huệ dẫn dụ người đọc vào một không gian vừa quen, vừa lạ. Quen bởi thấy nó có nhiều màu sắc, âm thanh của cuộc sống mà tác giả vốn là một người nhạy bén, luôn giương chiếc "cần ăng ten" thu nhận mọi tín hiệu buồn vui. Và lạ bởi tất cả những tín hiệu xô bồ ấy đã được qua một "bộ lọc" tinh tế, đó là quan niệm sống, là mỹ cảm, sự ý thức về sứ mệnh của nhà văn trước cuộc đời đầy biến động này.
Truyện ngắn "Thành phố đi vắng" mà Nguyễn Thị Thu Huệ đã chọn làm tựa cho cả tập truyện để gửi gắm một câu hỏi đau đáu: "Thành phố còn đây, kỷ niệm còn đây, mà tình đời, tình người thì đi đâu vắng rồi?". Đọc truyện ngắn này, chắc ai trong chúng ta cũng có cảm giác chua xót và hiểu vì sao viết xong truyện ngắn ấy, chính tác giả cũng rơi vào buồn bã rất lâu. Trong tập còn có một số truyện sâu sắc nữa ám ảnh về những vấn đề nhức nhối, về sự thờ ơ của con người với nhau trong xã hội hiện đại, về luật nhân quả ở đời như "Phòng chiếu phim số 9", "Cú mèo và rượu hoa" hay "Xmen có mùi trường đua"... Đây là những vấn đề của xã hội ẩn giấu sau những số phận đã được tác giả điển hình hóa qua các nhân vật trong truyện. Họ là một phần đời sống hôm nay. Đó cũng là những truyện ngắn có yếu tố kinh dị, ma quái như một nét mới trong cách viết truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ. Chị cũng dành nhiều trang viết về sự mất mát vô hình đang bao trùm lên đời sống này như "Chiều chủ nhật xem phim hoạt hình", "Của cha, con và những cành vạn niên thanh"... Hình như với chị, niềm vui qua nhanh, còn nỗi buồn thì thường đọng lại, day dứt mãi.
Đọc xong "Thành phố đi vắng", tôi có cảm giác thật buồn. Có chỗ còn thấy đau với nhiều chi tiết quá đỗi ám ảnh, những sự thật xót xa. Tập truyện cũng có những trang viết khiến người đọc nhận ra chính tác giả là người đang cố níu giữ lại vẻ đẹp của cuộc sống, sự lương thiện và niềm tin ở con người
Nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ: Mỗi khi viết là thêm một lần đau
- Thưa nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ, phải đến 5 năm chị mới "tái ngộ" với độc giả qua "Thành phố đi vắng". Thời gian qua, chị quá bận rộn với các công việc khác không có thời gian dành cho việc viết lách hay chị đang trong quá trình "tích lũy" cho những kế hoạch văn chương dài hơi của mình? + Đúng là thời gian qua tôi đã làm nhiều việc khác ngoài viết văn như tham gia sản xuất chương trình cho một kênh truyền hình, chuyển vào sống trong TP Hồ chí Minh do yêu cầu công tác, rồi cũng do công việc, tôi lại ra Hà nội. Mỗi lần chuyển vùng như vậy, bao nhiêu chuyện khác đi theo, như nhà cửa, con cái… Cũng may, từ nhỏ tôi là người thích di chuyển, ham khám phá nên trong bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào, tôi đều tự nhủ "coi như mình đang đi thực tế". Và đúng là mỗi một ngày qua đi, một điều dù nhỏ nhất mình thấy, những cảm xúc… đều là thực tế rất quan trọng với mình.
Việc mấy năm mới xuất bản sách một phần do tôi muốn dừng lại chuyện in sách một thời gian, để chiêm nghiệm với thái độ bình tĩnh dù tôi vẫn viết đều, nhưng không ào ạt như ngày xưa.  
- Có lúc nào chị định từ bỏ hẳn văn chương để đi một con đường khác bằng phẳng, dễ chịu hơn, lại dễ dàng... kiếm được nhiều tiền hơn?
+ Không! Tôi không bao giờ nghĩ mình sẽ bỏ viết vì bất cứ điều gì mà ngược lại, càng ngày, tôi càng sốt ruột với việc mình chưa dành cho việc sáng tác nhiều thời gian, không gian riêng hơn. Một đời sống đầy ắp biến cố. Những thân phận mang gương mặt của thời hiện đại, sự phân hóa trong xã hội, vào từng gia đình, và các cá nhân chưa bao giờ khốc liệt như bây giờ. Không biết các nhà văn khác thế nào, tôi thì luôn nóng ruột, muốn viết, viết thật sâu, thật kỹ về những thân phận người... 
- Nhưng thẳng thắn mà nói, đúng là chị có thời gian "chểnh mảng" với văn chương chứ! Vì 5 năm trời, là một đợt "đi vắng" trên văn đàn khá lâu?
+ Không phải tôi "chểnh mảng" với văn chương, mà chểnh mảng với việc xuất bản truyện. Để có được "Thành phố đi vắng", tôi luôn biết ơn mấy người anh, người chị trong giới văn chương, vì không có họ, chưa chắc tôi in được tập sách này. Tôi hay viết, ghi chép, nhưng rồi để nó ở máy tính, hay những quyển sổ. Nhiều lắm. Nếu không có các nhà văn Ngô thị Kim Cúc, Đỗ Quang Hạnh, Hồ Anh Thái, Hoàng Hoài Sơn đòi truyện để in báo, chưa chắc tôi biên tập lại những truyện viết rồi gửi. Khi có nhiều truyện rồi, nếu không có chị Hoàng Anh ở NXB Trẻ hàng ngày nhắn tin "đòi nợ", chưa chắc tôi tập hợp lại thành tập để in thành sách. Viết là một nhu cầu không bao giờ ngưng trong tôi, nhưng cũng cần những người bạn để đẩy tôi bước thêm một bước, là đưa những câu chuyện của mình tới người đọc. Không hiểu, cái sự "ẩm ương"  này đến với tôi tự lúc nào. Ngày xưa, tôi không như thế!
- Nhiều người nói rằng, "Thành phố đi vắng" là một cách viết mới, rất khác với chị thời của "Hậu thiên đường" với ngôn ngữ hiện đại, nhiều câu ngắn, khẩu ngữ... Chị có hài lòng với sự thay đổi trong cách viết mới của chính mình không?
+ Tôi không có ý định là phải thay đổi phong cách, hay phải làm mới mình. Nếu có sự thay đổi, có lẽ do trong đầu mình cảm nhận đời sống này, chiêm nghiệm về những gì đang diễn ra xung quanh thay đổi, nên khi viết ra thì thành như vậy.   Nhân vật, câu chuyện dẫn dắt cách kể và tôi bị họ cuốn đi. Tôi sống trong đời sống của họ, thấm thía sự tan nát của họ, và buồn bã cùng họ.
- Đọc "Thành phố đi vắng", người đọc có thể cảm nhận nỗi dằn vặt khổ tâm của tác giả về sự mất mát dường như đang bao trùm lên đời sống, về sự thờ ơ vô cảm của con người với nhau, sự xót xa cho thân phận con người... Vì sao những chuyện này lại ám ảnh, giày vò tâm trí của chị nhiều đến vậy?
+ Đời sống những năm tháng này đang thử thách sự kiên nhẫn, lòng chung thủy, sức chịu đựng của mỗi cá nhân. Sự thay đổi tốt lên hay xấu đi của xã hội không phải dễ nhận thấy như đời sống trong chiến tranh. Bom rơi đạn nổ, người sống kẻ chết thật rõ ràng. Thời nay, sự thay đổi lan tỏa âm thầm, ngấm ngầm bằng những câu chuyện có vẻ dửng dưng trên báo hay nơi chốn ta sống. Có vẻ như ai cũng dần thích nghi với những thay đổi đó, chấp nhận, chịu đựng, và quen. Đấy là một bi kịch.
- Chị từng chia sẻ rằng, có những câu chuyện trong "Thành phố đi vắng" viết xong chị cảm thấy buồn bã, thấy lòng mình tan nát, trong khi nhiều người viết khác nói rằng dẫu có buồn nhưng khi viết ra được rồi thì họ thường cảm thấy nhẹ nhõm, thanh thản. Tại sao vậy nhỉ?
+ Tôi luôn có cảm giác buồn, đầu óc rỗng và khô khốc sau khi viết xong một truyện. Có lẽ vì nhập tâm vào với những nhân vật của mình quá, nên khi kết thúc, là tạm chia tay, nên buồn, vương vấn một thời gian. Chỉ khi viết sang truyện khác, vào một đời sống khác, mới quên được "người thân" cũ và câu chuyện của họ. 
- Viết văn - theo ý kiến của nhiều nhà văn - cũng là một kiếp... giời đày. Chị có chung cảm nhận này không?
 + Không, tôi không thấy thế. Tôi thấy may mắn, vì mình được sống hai cuộc đời, với hai thế giới. Có một thế giới rất riêng, với những câu chuyện của mình, những vấn đề mình quan tâm… Có chăng, nên hiểu "kiếp giời đày" ở đây, là sự tự đày đọa mình khi phải viết ra những điều mình muốn, đau thêm một nỗi đau của nhân vật, là hai lần đau…
- Chị có thể tiết lộ cho bạn đọc đôi điều về cuốn tiểu thuyết sắp xuất bản của chị?
+ Nó là ba cuốn truyện vừa. Mỗi cuốn khoảng hơn hai trăm trang thôi. Tôi luôn tự trách mình chưa chuyên nghiệp trong việc viết. Đi các nơi, nhà văn, nhà thơ nhiều nước họ coi trọng sự chuyên nghiệp trong văn chương. Họ làm ở thư viện, hay nghiên cứu, cùng lắm là giảng dạy trong trường đại học, và phần lớn thời gian dành cho viết. Còn tôi, chưa làm được điều đấy. Đó là một khuyết điểm, rất cần phải khắc phục. Và…cần những người thân trong giới văn chương đã  " ẩy " vào lưng tôi trước đây, giờ tiếp tục nhắc nhở để tôi viết xong và không cất đi.
- Xin cảm ơn nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ!

  Nguyệt Hà (thực hiện)

XIN HÃY TIN EM

Đừng đi anh. Em xin anh. Hãy nghe em, em chưa biết van xin ai bao giờ, chưa biết xin lỗi ai bao giờ, nhưng lúc này, em xin lỗi anh và van anh hãy tin em!
-Hoài chạy theo, túm lấy tay chàng trai, níu kéo.
Chàng trai hất tay Hoài ra, đi nhanh ra cửa. Chàng ngồi lên chiếc xe 82-89 mới cứng nổ máy êm rì, phóng vụt đi.
Hoài tựa người vào khuôn cửa nhỏ, nước mắt thánh thót rơi. Cô cứ đứng như thế, khuôn mặt mờ mịt đau khổ. Hoài không biết đám bạn vừa tan học đang kéo về. Tiếng Phương "hoắng" reo to:
- A, chúng mày ơi, về xem bà thủ tướng "thớt trơ" khóc kìa. Nghìn năm có được một lần,có lẽ sắp bão to.
Tiếng cười rộ lên. Những người bạn học cùng khoá của Hoài ùa vào. Họ quăng cặp, túi, ba lô lên những chiếc giường tầng rồi xúm lấy ôm Hoài. Hoài mím môi và hất đám bạn bè ra, trèo lên giường nằm, khóc nức nở. Mọi người tản đi hết. Còn lại mình Thanh đang thay quần áo, vừa thay vừa véo von "Em ơi, Hà Nội phố, ta chờ em, mùi hoàng lan, ta chờ em, mùi hoa sữa... "
- Im đi cho tao yên,s ao mày không đi nốt cho tao thoát? -Hoài hét lên.
- Đi đâu? Rau mua rồi, nhà tắm thì đông, không ở nhà nấu cơm cho cái lão họ Trư nó ăn, nó chửi cho!-Thanh đang cười thoắt nghiêm trang.
- Thằng họ Trư nhà mày thiếu gì tiền mà không đi ăn hàng, lại cứ phải rúc ở cái xó này ăn cơm nhà bếp?-Hoài quay người ra,thôi khóc.
- Nó tiếc tiền ăn ngoài quán vì nó kiếm tiền cũng có dễ đâu mà quăng tiền ra cửa. Đêm qua đi với nhau về khuya, tao và nó vào ăn phở. Nó đói,nó làm hai bát,tao một bát, mất đứt chín nghìn, nó bảo với bà chủ quán"sướng nhé, móc được tiền của tôi bà sướng mất ngủ nhé". Bà bán phở vừa cười vừa chửi nó là đồ mọt ăn cứt sắt.
- Nó vừa ki,vừa trư như thế, mày đánh đu làm gì?
- Nó không ki với tao, nó làm ăn được toàn đưa tao giữ để chi tiêu, với lại thằng này tuy cục súc thật nhưng được cái thật thà, chỉ ăn với ngủ và với tao, chứ không để ý đến con khác, trong khi các khoá sau mình bao con hơ hớ ra đấy. Không yêu nó, mày bảo yêu ai, tuổi tác bọn mình thế, ại năm thứ năm rồi, biết từ giờ tới lúc ra trường có thằng nào nó rước cho kịp để còn ở lại Hà Nội?
- Làm sao mày khóc? Tao thấy đến mẹ mày ốm ở quê mày cũng không khóc cơ mà? -Thanh ngây mặt nhìn Hoài đang chống tay,lồm cồm bò dậy.
- Anh Thắng bỏ tao rồi! Giọng Hoài hơi ngạt đi.
- Sao, ông ấy yêu mày thế kia mà? Thanh hốt hoảng.
- Tại tao, tại tao hết Thanh hết Thanh ạ, bây giờ làm thế nào?-Hoài khóc.
- Cái số chúng mình thật khốn nạn. Tại sao chúng mình lại không sinh ra ở Hà Nội? Chúng mình là cái loại cao không tới,thấp không xong. Về quê còn khốn nạn hơn. Đàn bà con gái mà không biết làm ruộng và đẻ con, lại ti toe học "dững" đại học trở lên, kiếm đâu rả Những ông học ít thì không dám mơ tới bọn mình vì sợ không "ngang phân", thế là bọn mình thành đứng đường. Bọn tao đang mừng cho mày, vậy mà...
- Chào hai em, hai em to nhỏ gì đấy? - Đàm vừa nói vừa dắt thẳng chiếc xe mini Tầu, trên xe thò ra chùm dâu da xoan.
- Bọn em đang tâm sự, chàng họ Trư yêu dấu! -Thanh vụt đứng dậy đón Đàm, co chân hôn chút vào má anh trước mặt Hoài. Hoài quay mặt vào tường, nước mắt thánh thót rơi.
- Anh đói quá, có gì ăn không, tối nay đi xem nhé, phim "xác chết trên cao nguyên", thấy bảo như phim ma của Mĩ mà ở các quán giải khát mình vẫn ngồi uống và xem ấy.
- Sắp xong cơm rồi, hôm nay em làm món nộm rau muống có cả muối vừng, ngon tuyệt.
Họ tâm sự, chàng kể về số tiền kiếm được hôm nay, nàng kể về những chuyện trên giảng đường. Họ không cần quan tâm đến Hoài. Đây là phòng nội trú nữ, năm năm nay họ sống như trong một gia đình, không có một chuyện gì họ giấu nhau, kể cả những chuyện tế nhị nhất.
Hoài vùng dậy,ra sân. Sân trường mát rượi, nắng tắt từ lúc nào. Những tốp sinh viên đi cùng nhau lấy cơm ở nhà bếp về, người xách xô ra máy nước công cộng, tiếng hát ngang ngang quê quê của một cô nào đó trên tầng hai. Mắt Hoài nhoè nước.
***
- Đố ai đọ được với Hoài cao thủ nào, tao là trọng tài, bên nào thắng được bao ba số, bên nào thua mất một chầu nước mía, trọng tài ở giữa cổ động viên và chi tiền thuốc lào.
- Đáng gì cái tiền thuốc lào, mày khôn thế, chỉ ăn người nó quen đi, mày cá em Hoài xinh đẹp được hay thằng Toản cụt được?
- Cá chó gì, tao chỉ tin em Hoài em thôi, anh chả cần cá cũng thắng bởi biết em quá, chúng mình vào sinh ra tử có nhau rồi, hôm liên hoan với bọn K34 mà không có Hoài nốc hộ tao nửa lít rượu, tao toi từ lâu rồi.
Hoài cười khật khừ, má cô hóp lại vì rít thuốc, mặt Hoài tràn đầy một nụ cười ma quái, đầy vẻ bề trên.
Tiếng hò reo nổi lên, chả biết bọn lau nhau cổ động viên lôi ở đâu ra đến năm cái điếu cày, mỗi thằng một chiếc,c ắm cúi vê thuốc cho vào nõ. Hoài bắt đầu rít trước. Mắt cô lim dim như say thuốc phiện, rồi rít sòng sọc, tiếng rít nghe giòn tan. Cô làm động tác từ từ như tạo dáng, điềm tĩnh rít và khoan khoái thả khói như thể hút thuốc lào ngon thật sự. Đến điếu thứ mười thì Toản cụt gục, Hoài vẫn tiếp tục rít, càng sau càng ngon lành hơn. Mặt Hoài như có sương phủ, mơ màng một vẻ đàng điếm và đĩ thoã. Cuối cùng là tiếng hò reo và những tiếng chút chít của những cái hôn bọn đàn em tặng Hoài vì cô thắng cuộc.
- Hoan hô đệ nhất phu nhân của Badôca, hôm nọ bà phu nhân đã chiến thắng trận rượu, nay lại đoạt cúp vô địch về thuốc lào ,bọn em xin đãi bà chị một chầu ba số và bia hơi thịt chó, đi thôi.
Cả bọn như một cơn lốc kéo nhau ra quán thịt chó ở cổng kí túc xá. Bụi bay mù mịt theo chân họ.
Hoài sống như thế đã hai năm nay, sau khi vào trường được một năm, Hoài đã chứng tỏ bản lĩnh của một cô gái thành thị tỉnh lẻ: ngang tàng bất chấp tất cả. Cô muốn mình làm được tất cả mọi thứ không thua kém ai. Hoài học thông minh, nhạy cảm nhưng lười. Cô lại xinh, hai mắt to tròn sắc sảo, khoé miệng lúc nào cũng như bĩu ra, thêm với cái dáng luỳnh khuỳnh như con trai, Hoài ít được lòng của phái nữ, cô chỉ được đám đàn ông tung hô thôi.
Hoài bắt đầu nổi tiếng từ khi cô bị điểm hai môn Nga văn. Cô chỉ thích tiếng Anh vì cô bập bẹ học hát được vài câu tiếng Anh. Do số giờ lên lớp thiếu nhiều quá, cộng với tính ngang tàng của mình, trong giờ kiểm tra, Hoài làm được một câu hỏi xong cô đề ở dưới "không biết cách chia động từ vì rắc rối quá, đề nghị cô giáo thông cảm và toàn quyền phán xét, xin cảm ơn". Thế là Hoài xơi điểm hai. Chiều hôm đó, sau khi trả bài kiểm tra học kì, cả lớp có mình Hoài điểm hai. Cô liền về nhà, nhằm lúc giờ đi ăn cơm của sinh viên nội trú, cô mang tất cả tự điển và giáo trình ra giữa sân cỏ, chỗ mà bắt buộc ai cũng phải đi qua, chất chúng lại thành một đống và tưới một chai rượu quốc lủi lên. Chai rượu bán ở các quán pha nhiều cồn cộng với cái gió của buổi chiều đã mau chóng bén vào nhau và tạo nên một đám cháy con con như đám cháy của một đống rác nhỏ. Chưa xong, Hoài còn mặc một bộ soóc bò, tóc buộc đuôi gà và nhảy disco xung quanh đám lửa, có lúc ngoáy mông lắc vai như nhảy xếch, rồi uốn éo như lambadạ Một lúc sau,quanh cô là cả một đám đông. Có thằng nào lấy một cái đàn ghita, đứa lấy hai cái đĩa sắt, đứa lấy cài bàn gỗ, tất cả tạo thành một giàn nhạc sống mà nhạc trưởng là Hoài, vừa chỉ đạo vừa diễn luôn.
Sinh viên đại học khác học sinh phổ thông ở chỗ sống và học tập một cách tự giác.
Thầy giáo chủ nhiệm là người tế nhị, thầy có thể hùng hồn giảng bài chứ nói đến chuyện sinh hoạt cá nhân, lại là của sinh viên nữ thì thầy hay ngại.
- Em uống rượu hay hút thuốc lá, thuốc lào thì bận đến ai? Em có làm sao thân em chịu chứ em có phiền vào ai đâu mà bọn chúng nó mách thầy? Em có phải thò lò mũi xanh đâu mà chúng nó phải lo cho em? -Khi thầy giáo góp ý, Hoài cãi.
- Không chạm đến ai nhưng nó chướng lắm. Những trò đó là của đàn ông, em là con gái, phải giữ những bản tính của con gái chứ?
Hoài không trả lời thầy chủ nhiệm mà về, xông thẳng vào buồng hét lên:
- Con nào hớt lẻo với thầy chuyện của tao? Từ nay trở đi tao cấm đứa nào đụng đến tao, tao có quắp thằng nào nằm giữa cái phòng này thì đấy cũng là chuyện của tao, chỉ trừ bây giờ tao cướp người yêu của chúng mày hay cắp ăn trộm tiền bạc quần áo, chúng mày mới được quyền nói! -Hoài nói và bỏ đi qua đêm hôm đó.
Đến năm thứ tư thì Hoài trở thành một nhân vật nổi tiếng khắp trong trường và lan ra cả khu vực quanh trường. Hoài có thể uống cả chai rượu trắng không say, hút thuốc lào không mệt mỏi, nhảy đầm qua đêm và đánh đu với những người đàn ông nào chịu được cộ Nhà trường không có lí do để thi hành kỉ luật vì học lực của Hoài cũng tương đối khá, những chuyện riêng tư thì chỉ nghe trong đám sinh viên chứ tận mắt các thầy chưa ai trông thấy.
Rồi bỗng một hôm, Hoài dẫn về phòng một chàng trai lạ hoắc. Cả phòng ngơ ngác vì vẻ con nhà lành của chàng trai, ăn mặc sang trọng và lịch sự, nói năng chững chạc và ra chiều mến Hoài lắm. Hoài giới thiệu đó là Thắng, một kĩ sư vô tuyến điện đang công tác tại một viện nghiên cứu, do có việc phải về Vinh, tình cờ gặp chị của Hoài, chị ấy gửi quà cho cô và anh ta mang đến. Họ gặp nhau lần này là lần thứ bạ Cả phòng nữ ngạc nhiên trước cử chỉ lời ăn tiếng nói của Hoài, cô như một người khác, giống như một tiểu thư khuê các ngoan ngoãn tuyệt vời chứ không như cô Hoài "thớt trơ" mọi người vẫn gọi.
Và sau đấy họ yêu nhau. Tình yêu quả là một phương thuốc thần tiên. Trước đây, mỗi khi nghe tin con gái vừa xảy ra một vụ việc như đánh nhau, uống rượu suốt đêm với đám con trai và nhảy thoát y vũ, bố mẹ cô liền tức tốc gửi thư và số tiền còm do trồng rau nuôi gà ở quê lên cho cô con gái học đại học thanh toán tiền cắm quán, Hoài chỉ ra bưu điện nhận tiền chứ chẳng ngó đến thự Vậy mà bây giờ, suốt từ tết, cô viết về nhà đến chục lá thư, tiền bố mẹ cho không tiêu hết vì có dám xuống quán nữa đâu. Hoài như con cua bể, tự lột xác thành người khác. Bạn bè và thầy giáo mừng cho Hoài và ra sức vun vén cho hạnh phúc của cộ Cuộc tình của họ kéo dài được một năm trong sự thu vén che đậy cái quá khứ không lấy gì làm đẹp đẽ của Hoài.
Buổi tối,Thắng bảo Hoài:
- Mai sinh nhật mẹ, anh muốn chính thức ra mắt cả gia đình chuyện của chúng mình, rồi tuần sau nghỉ làm luận văn, chúng mình về Vinh xin phép bố mẹ em, có lẽ gần hết học kì II và trước khi ra trường chúng mình sẽ tổ chức lễ cưới. Sẽ rất vui vì bạn bè em có đủ cả.
Hoài sung sướng mê đi trong vòng tay Thắng. Cô nghĩ tới lúc được mặc váy trắng, ôm một bó hoa to bước lên xe hoa trong tiếng pháo,tiếng nhạc dìu dặt. Cô sẽ làm vợ và luôn được sống bên anh, người mà cô tin, yêu và nghe lời hơn cả bố mẹ.
Tối hôm sau, Hoài dồn tất cả tiền của mình cộng với một trăm nghìn vay của mấy đứa trong lớp đi ra chợ vải, chọn ba mét vải sa tanh vàng in hoa chìm rất lịch sự và một chiếc bánh gatô to bê đến nhà Thắng. Tất cả gia đình anh chờ đón cô và nhìn cô đầy trìu mến. Rồi họ mở sâm banh uống chúc mừng sinh nhật bà mẹ Thắng. Hoài như bước vào cõi mơ bởi ánh sáng của những ngọn nến, của mùi thuốc lá ngoại lâu nay cô nghiến răng cai, của những li rượu màu ngọt ngào mê đắm khác hẳn những chiếc cốc thuỷ tinh rượu trắng ngày trước cô thường nốc. Cô bắt đầu cười nói tự nhiên và uống rượu.Lần đầu tiên Hoài uống rượu trước mặt Thắng,trước đây, thỉnh thoảng cùng đi dự sinh nhật với anh, cô đã được đám bạn bè dặn trước lúc đi là tuyệt đối không uống một hụm nào, không được lộ cho Thắng biết cái quá khứ của mình. Lúc này thì không, Hoài tin rằng chỉ một thời gian ngắn ngủi nữa cô sẽ thành vợ Thắng, sẽ không cần giấu giếm mọi chuyện. Rượu sâm banh hoa quả rất ngon, lại nhẹ hơn bia, cô tự nhiên uống hết những li mà mọi người rót cho mình. Rồi mọi người ra nhảy, bản nhạc vanxơ vang lên dìu dặt, quyến rũ, tất cả mọi người ôm nhau ra, Hoài thì đứng im lìm,nhìn ngắm. Thắng giơ tay lịch sự mời cô, lúc ấy,q uên những lời dặn dò trước đây của bạn bè, quên giữ ý tứ hàng ngày, Hoài gần như quay lại cái bản năng của mình. Phần vì lâu không uống rượu nên tửu lượng của cô kém đi, cộng với cái giống sâm banh pha cô nhắc rất dễ say, Hoài bảo:
- Em không biết nhảy van hay tăng gô, đó là điệu nhảy của bọn trưởng giả học làm sang, em không bao giờ học nhảy cả, chỉ nhìn chúng nó nhảy là em bắt chước, em chỉ nhảy disco hay lămbada thôi.
Hoài say sưa nói và không nhìn thấy mặt Thắng hơi đờ rạAnh hỏi:
- Sao không bao giờ anh thấy em nhảy,mà những lần đi sinh nhật cùng anh,em có nhảy đâu?
- Lúc đó khác, bây giờ có anh, em sắp làm vợ anh, cần gì giấu nữa.
Hoài mím môi và im lặng. Bản vanxơ vừa hết, rồi đến một bài nhạc kích động, đám con cháu thanh niên lao ra, quay cuồng, đảo điên trong ánh đèn màu. Hoài từ từ tiến ra. Cô hơi say, chân cô nhẽ bỗng như không bén đất, một cảm giác như bay lên ở các bước chân xâm chiếm Hoài. Cô lao vào cơn lốc của tiếng nhạc. Người Hoài giật đùng đùng, tóc cô rũ rượi, tay vung vẩy theo nhịp chân. Thắng chết lặng đứng nhìn Hoài như một cô gái rẻ tiền thỉnh thoảng đến các vũ trường nhử khách. Anh cay đắng lại chiếc giàn cát xét, tắt phụt bản nhạc trước con mắt ngạc nhiên của mọi người. Anh hô to:
- Thay băng lămbada đi.
Có tiếng reo và một thoáng sau bản nhạc lămbada quyến rũ khêu gợi vang lên. Trong khói thuốc mờ ảo, trong ánh đèn xanh đỏ và không khí đầy mùi rượu và hoa quả, Hoài lắc lư, uốn éo mông và run rẩy thân hình. Cả nhà đứng CHẾT LẶNG NHÌN NHƯ HÚT VÀO CỘ RỒI MỌI NGƯỜI NHÌN THẮNG, NHÌN HOÀI. ÁNH MẮT CỦA CẢ NHÀ HỐT HOẢNG VÀ SỢ HÃI LẪN NGẠC NHIÊN NHƯ NHÌN THẤY một bệnh dịch. Thắng cắn chặt môi, im lìm như hoá đá thôi miên Hoài. Cô như thoát xác bay lên bởi men rượu, bởi lâu không nhảy hết mình và đang hạnh phúc. Tất cả mọi người ra bàn, bà mẹ Thắng lại gần Thắng, nói nhỏ một câu "con định rước ai về nhà này thế? Mẹ mong là không bao giờ phải gặp lại nó một lần nữa. Con làm hỏng buổi sinh nhật của mẹ rồi" và bà đi lên gác. Không ai bảo ai, tất cả lặng lẽ ra về. Họ ra đi lặng lẽ chứ không ồn ào như trước, Thắng tắt nhạc, Hoài vẫn trong cơn say, cô còn uốn éo thêm một lúc nữa rồi thôi, ngơ ngác nhìn quanh. Thắng lại gần bên Hoài, anh nghiến răng:
- Tôi không ngờ cô giỏi như thế, tôi xin lỗi là đã dám sánh đôi cùng cô một năm naỵ Tôi xin phép được đèo cô về.
Và Hoài hiểu mọi chuyện. Trên đường về, cô đã kể tất cả quãng đời trước kia của mình cho anh nghe vì nghĩ rằng sắp là vợ chồng của nhau thì cần gì phải giấu. Cái quan trọng là cô đã thay đổi.Thắng cay đắng nghe Hoài nói, và anh thả cô vào trường không một lời hẹn. Hoài đau khổ cứ định ôm Thắng thì anh lại hất cô ra vì kinh tởm thật sự. Anh dứt khoát rũ cô ra sau khi nói lại một câu:
- Tôi nhầm về cô ! Cũng may là tôi kịp biết là cô lừa tôi một cách tinh vi, cái lừa lọc của một có người có học nguy hiểm hơn của thằng vô học. Cô quên tôi đi, giữa chúng ta sẽ không có một chuyện gì nữa. Tôi không thể là một con chó ngu si gặm khúc xương thừa.
***
- Đi ăn cơm với tao, Hoài. - Thanh kéo tay Hoài, ngó nghiêng sau Thanh là ông bồ họ Trư.
Có lần Hoài hỏi Thanh , tại sao mày lại yêu hắn trong khi mày gọi hắn là họ Trư ? Thanh trả lời: những thằng họ Trư là giống Trư bát giới,vừa háo sắc lại tham ăn,yêu nó,mình không mất gì miễn là cho nó ăn ngon và thoa? mãn,nhưng tao chỉ yêu những thằng giầu thôi."Tại sao ?" "Tại nó đủ sức lo cho mình. Chúng mình. Chúng mình không hi vọng gì về quê với cái bằng đại học hão này, mà sống ở Hà Nội thì phó tiến sĩ nhiều không đếm xuể, mình học là cốt để ngoi lên Hà Nội,v à phải ở lại chứ không về quê nữa. Không phải những thằng họ Trư thì ai thèm mê mình?"
- Tao không muốn ăn - Hoài trả lời.
- Quên hắn ta đi. Đời mình còn dài, tao sẽ kiếm cho mày một ông đồng hương cùng họ Trư với bồ của tao. Đơn giản thôi em ạ. Có số hết mày chống làm gì ?
Nghe tao mà vứt cái mơ mộng hão của mày đi,phải thực dụng. Tối đi xem phim và quên nó đi, mày yêu nó thế còn là lâu đấy.
Nước mắt Hoài trào ra. Bố mẹ Ơi, sao bố mẹ không dạy con rằng mọi chuyện đều xảy ra có một lần trong đời, cái gì qua đi không lấy lại được ? Sao bố mẹ chỉ nhăm nhăm gửi tiền cho con mà không ở bên con mỗi sáng mỗi chiều cho con bớt cô đơn? Bây giờ học mà làm gì khi trong đầu con rỗng tuếch chẳng còn tí kiến thức nào ngoài sự lo toan cho cuộc sống sắp tới ?
Tiếng hát ngang ngang quê quê trên tầng hai vang lên "ta chờ em cây bàng mùa đông mồ côi, góc phố mùa đông mồ côi,vầng trăng mồ côi,mùa đông năm ấy... "
Hoài vùng chạy, cô lao ra đường, xuống quán. Sau một năm, bà chủ quán lại thấy Hoài uống rượu.

NƯỚC MẮT ĐÀN ÔNG

Bão tan. Bảy giờ sáng tôi lên tàu về phía Nam. Tàu đi qua những miền đất xác xơ, cây cối đỏ hoang tàn. Càng xa thành phố, cuộc sống càng như lao xao bởi trận bão vừa qua cuốn theo nó sự yên bình.
Hai ngày sau, đất Sài Gòn hiện ra, nóng bỏng nắng. Một thành phố gần như không bao giờ có bão. Tôi xuống các miệt vườn, với những đường phố nhỏ nhắn, những vườn dừa xanh um toả bóng. Tôi là thằng đi thu gom hạt điều và xuất khẩu chúng.
Bốn tháng sau, trở lại Sài Gòn, tôi nhận được thư của mẹ, lá thư duy nhất cho tôi trong những ngày xa nhà. Tôi chăm chắm nhìn vào dòng chữ: "... Vì cái tội tin bạn, bị bạn nó lừa...". Một người như cậu mà cũng bị lừa ư? Chuyện đó chỉ có thể xảy ra cách đây ba mươi năm. Một người bạn của cậu bảo tôi: "Mày có một ông cậu tuyệt vời, ông ấy bao giờ cũng đi trước lịch sử. Ngày ấy, tớ ti teo về cùng phòng của cậu mày, tớ kém ông ấy gần chục tuổi. Cậu mày mê văn chương lắm, khởi đầu là viết một truyện ngắn cực hay bởi cậu mày rút ruột ra viết, những suy nghĩ của một thanh niên trước cuộc đời. Ai ngờ, khi in ra, truyện bị coi là chống chế độ và hoài nghi về công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội...". "Cậu cháu viết chửi bới à?", "Không, viết về tâm trạng của người lính trước cuộc sống, trước những hiện tượng tiêu cực của xã hội. Lúc ấy, đang chiến tranh, con người phải dốc lòng ra chiến đấu, người lính không được đứng ngoài cuộc nhìn mọi thứ bằng ánh mắt không xây dựng. Bị phê bình, thậm chí có bài viết còn phân tích rõ ràng, rành mạch những tư tưởng vấn đề của cậu mày. Lúc tao hỏi là ông có viết thế không, cậu mày cười phá lên, bảo tớ không ngờ ngòi bút của các nhà phê bình và lối suy diễn của họ giỏi thế, tớ chẳng còn biết họ bình chuyện của tớ hay của thằng nào? Rồi cậu mày chuyển sang làm kinh tế, nói một là một, hai là hai chứ không hai với hai bằng năm như bên văn chương. Cậu mày thành tỷ phú. Tôi cãi là gì có chuyện tỷ phú, cậu ấy chỉ giàu thôi, chú cứ làm như kiếm tiền bây giờ dễ lắm ấy?". Càng kiếm tiền càng khó, lao vào hàng nghìn người, trụ lại khoảng năm người cực mạnh, vài thằng lau nhau còn đâu toi hết. Trong số những người cực mạnh có cậu mày. Vốn của họ lớn hơn vốn của cơ quan, nhân viên của họ tử tế hơn nhân viên nhà nước bởi họ ăn lương cao hơn, làm tốt thì nhiều tiền, hỏng thì đuổi, buộc con người sống phải có trách nhiệm. Càng lớn càng hiểu thêm, chú nhóc ạ. Rồi sẽ đến lúc mày thấy một người như cậu mày là hiếm lắm. Cậu mày là hình tượng và mơ ước của tao".Thế mà giờ đây, mẹ viết thư bảo tôi là cậu bị lừa? Đứa nào to gan và khốn kiếp đã lừa cậu?
Tôi thôi thúc một ý muốn ra Hà Nội. Được cơ quan cử làm chân chạy đi chạy về trong việc xuất khẩu nông thổ sản, bởi lẽ tôi chưa vướng vợ con. Ba ngày sau, cầm một khoản tiền thưởng, thu xếp ổn công việc, tôi lên tàu về Hà Nôi. Thành phố đang mùa hè mà thời tiết như chớm đông. Đường phố mát rượi, yên bình một màu xanh.
Tôi ở nhà với mẹ một buổi chiều rồi lên nhà cậu. Mọi vật dường như thay đổi. Cậu cho thay những thanh gỗ ốp quanh nhà, tất cả các phòng đều lắp điều hoà nhiệt độ. Bàn ghế, đồ đạc trong nhà mới biết. Nếu trước đây là những nộ bàn ghế bọc mút, hay phoóc-mi-ca của Sài Gòn thì nay tất cả đều là đồ cổ hoặc giả cổ đắt tiền. Các phòng đều có tivi, hai phòng có một tủ lạnh và dàn cát-xét. Con bé út của cậu đang bật máy phát một bộ phim tâm lý xã hội Hồng Kông.
Tôi hỏi: Nhà có vài phòng, tại sao phải dùng máy phát?
- Để cho hàng xóm láng giềng cùng xem, nhà nào gần chỉ cần cái vô tuyến đen trắng là bắt được. Bố em thích thế.
- Bố đâu?- Tôi hồi hộp muốn gặp cậu như gặp người yêu.
- Bố mẹ em đèo nhau đi phố, về bây giờ đây. Bố em mới thay cho em con Dream này đấy, con 82-89 kia bán rồi. Đi xe này đầm lắm, anh lên đây em chở một vòng!
Con bé hăm hở bật khóa điện và ấn nút đề. Nghe tiếng nổ pình pình, mặt nó mãn nguyện lắm.Tôi lại gần và sờ lên chiếc xe bóng loáng. Một bên gương gãy gục, cốp xe xước sơn và cái yên rách.
Thấy tôi nhìn, con bé cười lấp liếm:
- Sáng cho mấy thằng bạn mượn, nó din ba cầu, sợ công an đuổi chúng phóng nhanh nên đâm nhau què rồi. Chốc em xin tiền mẹ đi thay mấy thứ, mông má lại. Em hỏi rồi, mất hơn triệu thôi.
- Hơn một triệu? - Tôi như không tin nổi ở tai mình.
- Riêng đèn hậu của em cũng vài trăm, còn bao nhiêu thứ, cái xe này hai mươi tư vé đấy.
- Vé là cái gì? - Tôi hỏi
- Mỗi vé là một trăm đô la. Một trăm đôla bằng một triệu mốt tiền Việt, anh nhân lên.
Tôi im lặng nhìn nó. Một đứa con gái mười bảy tuổi, chưa tự tay kiếm ra một xu mà nói tiền triệu trơn đầu lưỡi. Nó mặc một cái váy bó chặt lấy người, chiếc áo thun ba lỗ và người đầy những dây chuyền và nhẫn vàng. Trông nó không kém những cô gái Sài Gòn tôi vừa gặp, chỉ có điều mặt nó thật non nới. Một triệu, đó là cả số tiền tôi đi xuôi ngược làm bốn tháng rồi được thưởng, tặc lưỡi một cái nó nghiến xong.
Con bé chạy ra mở cửa. Cậu tôi đang cúi người đẩy chiếc xe to đùng, xanh ngắt như màu con cánh cam vàng. Cậu trông hồng hào hơn trước. Mợ đi sau, tay ôm một bịch hoa quả khác nhau.
Cậu trông thấy tôi, reo khẽ một tiếng ánh mắt đầy trìu mến.Tôi và cậu đi lên cầu thang, qua phòng cậu và ra ban công bão tố ngày nào. Cậu đưa tôi một bao ba số dẹt.
- Hút đi cháu, khoẻ không?
- Bình thường cậu ạ. Cậu thế nào?
- Cậu vẫn thế. Sao hôm đi không lên cậu, vào trong đó tiền đâu mà tiêu.
- Cháu tìm cậu mấy lần mà không gặp. Hôm nay về nhà, nhìn thấy cái ti vi màu cậu cho, bật xem tỉnh cả người. Sao cậu cho mẹ con cháu nhiều thế?
- Vớ vẩn, có gì mà nhiều? - Cậu lảng tránh câu hỏi của tôi.
- Thấy cậu vui là cháu mừng rồi. Có lúc cháu tưởng cậu sẽ bỏ mợ.
- Bỏ gì nữa. Tao già thế này rồi, mợ mày cũng thế, còn thời gian nữa đâu mà làm lại? Vợ chồng là số phận, chống cũng chẳng được. Cứ sống thế này thôi.
- Tại sao cậu chiều Dung thế? Cháu thấy nó tiêu tiền như rác.Cậu im lặng không trả lời tôi.
Tôi tiếp tục:
- Dung cũng ngoan thôi nhưng tại cậu mợ chiều, nó chưa kiếm ra tiền nên không thấy quý. Trên đời này sướng nhất là tiêu tiền của người khác. Cậu không cẩn thận, một đứa con gái như nó dễ hỏng lắm. Lúc nãy bật ti vi, thấy vở kịch nói về Ngày thương binh liệt sĩ, nó tắt ngay, bảo xem cho phí điện, lảm nhảm toàn chuyện nhố nhăng. Cháu hơi bực. Một đứa phá phách như nó mà lo chuyện tốn điện? Có phải thế hệ nó quên hết rồi sao?
Cậu thở dài rút ra một điếu thuốc rồi châm lửa hút.
- Không ai chọn được bố mẹ và con cái, thậm chí cả vợ.
- Nhưng phải có biện pháp chứ? À, nghe nói vừa rồi cậu bị lừa?
- Cậu ký hợp đồng làm một con đường làng. Cậu thương tay Hoạt đang đói, nhường cho hắn làm. Ai ngờ hắn làm sai kỹ thuật, đường gì mà vừa mưa đã nổ bùm bụp. Họ túm cậu. Cậu lo xong rồi, đang tiến hành làm lại.
- Còn cô ấy? - Tôi dè dặt.Cậu im lặng rít thuốc. Một đốm sáng loé lên. Gió khe khẽ lùa qua kẽ tóc tôi, mát và êm dịu.
- Cô ấy lấy chồng rồi.
- Tại sao hả cậu? - Tôi giật mình.
- Cậu khuyên cô ấy và cô ấy nghe. Suy cho cùng, đợi cậu thì cô ấy được cái gì. Cô ấy yêu cậu không phải vì cậu giàu. Toàn bộ cuộc sống riêng cô ấy dành cho cậu. Mà tình cảm cậu chỉ dành cho cô ấy trong giờ hành chính thôi. Chiều tối là ở nhà lo việc gia đình. Vậy kéo dài thêm chỉ khổ cô ấy, cậu bỏ vợ lấy cô ấy chắc gì đã hay, mà cô ấy cũng không muốn cậu chia tay với mợ mày.
- Cậu có tiếc không?
Tôi nhìn cậu. Một cơn gió tạt qua, điếu thuốc lá nơi môi câu loé sáng.
- Cậu chỉ yêu một mình cô ấy.
- Hình như cậu già mất rồi.
- Ừ, cậu già quá rồi. Này cậu dặn, mai kia cậu chết đi, khi cho cậu vào áo quan, mày nhớ đục hai lỗ to ở hai bên ra nhé.
- Để làm gì hả cậu? Sao cậu cứ nói linh tinh cái gì đấy?
- Đục hai cái lỗ để tao chìa tay ra ngoài! - Cậu chợt cười phá lên.- Cậu làm thế để xem có ai đi qua còn túm chứ!
- Chết rồi, còn túm được ai?
Cậu lại im lìm.
- Cậu thò hai tay để mọi người thấy rằng cậu đi vào cõi chết bằng hai bàn tay trắng. Cậu không mang theo người lấy một xu bởi lúc ấy tất cả thành vô nghĩa.
Tôi thôi cười và im lặng nghe cậu nói. Cậu là người của sự tiến bộ, thích khám phá và đi lên, tại sao cậu luôn buồn?
Tôi hỏi:
- Một người như cậu đáng lẽ rất sung sướng, sao cậu lại khổ?
- Tại cậu nhiều ham muốn. Muốn nhiều tiền, muốn làm văn chương, muốn có một người yêu thực sự....
- Cậu đã có tất cả, thậm chí còn dư thừa đấy thôi.
- Bây giờ cậu sắp mất tất...
- Tại sao ạ? - Tôi hỏi vội
- Bởi cậu cô độc. Con cái không ai theo nghề và hiểu cậu, chúng không có nổi mười lăm phút tâm sự với cậu ngoài câu chuyện tiền bạc. Cậu mang vật chất cho chúng dư thừa, chúng chẳng cần làm ăn vất vả cũng đủ sống. Người yêu cậu thì đi lấy chồng vì đợi cậu có ích gì? Tiền của, ăn mặc, tất cả mọi nhu cầu vật chất đến một lúc nào cũng sẽ chán ngấy. Ai nhìn cậu cũng thấy cậu sung sướng. Còn bản thân cậu, cậu thấy cô độc. Theo cháu, thế có đáng buồn không?
- Cậu còn mong gì nữa khi mình là mơ ước của bao nhiêu người, và lý tưởng sống của cháu?
- Cậu muốn có tuổi trẻ để sống lại.
- Cháu chỉ thèm lúc về già sẽ được như cậu.
- Nhầm lẫn đấy. Đừng có nhắc lại những ngu xuẩn của người khác.
Tôi nhìn cậu. Ông như một người khác. Tôi giật mình tự hỏi: Đấy có phải là cậu - Trước đây bốn tháng? '
Một tay giữ dây chuyền, một tay giữ bánh lái, ông lẩm bẩm:
- Gió to đấy.
Tôi đáp:
- Vâng, gió to. Sắp bão rồi.
Ông hơi cười, nheo mắt nhìn ra xa. Cuối trời, mây xám vần vũ. Mặt hồ sóng sủi sùng sục. Tôi hơi sợ, dò xét nhìn ông. Ông bình lặng, thoáng trầm ngâm như đang mặc niệm ai đó mới lìa đời. Gió đuổi sóng trên hồ, tất cả tạo thành một không gian dại như ngựa phi trên đồng cỏ.
Tôi nhẹ nhàng:
- Có lẽ phải về thôi, sắp bão rồi.
- Chưa đâu. Bây giờ mới là lúc sướng. Tớ cho thuyền ra xa đón gió. Nằm xuống đi không dây nó quạt cho vào đầu đấy. Tôi lẳng lặng nằm xuống. Trời mênh mông và bao la. Mây cuồn cuộn trên đầu như đmá lốc xám xịt. Con thuyền dập dờn. Ông đang kéo dây, xoay chiều thuyền để xuôi theo luồng gió mới. Khuôn mặt từng trải và trầm tĩnh nổi bật trong không gian.
- Cậu biết hôm nay có bão à?
- Biết chứ.
- Biết mà cậu vẫn thuê thuyền?
Tôi hơi lo.
- Vớ vẩn, bão gì mà bão, có buồn ngủ thì ngủ đi, cậu cho sang bờ bên kia chơi.
- Thôi cậu, nhỡ ra không về kịp...
- Cậu chịu trách nhiệm. Tôi và ông im lặng. Tiếng gió đập phần phật vào cánh buồm đỏ thắm. Tôi nhăm mắt, bồng bềnh, lắc lư chao đảo và mê ly. Không có một chăn đệm nào êm ái và dịu dàng bằng sóng nước.
Tôi ngồi dậy, chúng tôi im lìm nhìn mỗi người một phía. Một góc Tây Hồ khói cuộn mù mịt trong lùm cây.
Ông hơi cười:
- Hôm nay ngày rằm, cháu có muốn vào phủ Tây Hồ thắp hương không?
- Cháu vô thần mà cậu. Cháu chỉ cần tiền thôi, nó sẽ mở tất cả các cánh cửa cho cháu. Và ao ước có một mái nhà như cậu. Thế là đủ.
- Chả đủ được. Nhà cậu thì đã ra cái gì. Vào thắp hương đi. Cậu giữ thuyền ở ngoài này!
Ông nói và lấy chân đã cái túi da đen dưới chân.
- Tiền đấy, cầm đi vào mua hương và công đức.
- Cháu không vào. Cháu chỉ thờ bố cháu ở nhà thôi, cháu cũng có biết khấn vái gì đâu. Thôi, đi cậu, có hạt mưa rồi.
- Thì đi! - Ông lại trầm ngâm, khom người đẩy thuyền ra xa bờ. Tôi cảm thấy loang trong không khí có mùi hương.
- Cháu yêu cái con bé hôm nay đến nhà đấy à?
Cậu hỏi ngoảnh mặt ra hướng khác. Tôi cười, cử chỉ đó tôi đã quen từ lâu. Mỗi khi cậu cho ai cái gì, giúp đỡ ai việc gì, mặt cậu đầy vẻ bẽn lẽn. Cậu mang cho người khác tiền y như cậu đi xin người ta vậy. Không bao giờ kể lể ban ơn.
- Yêu đương gì đâu cậu, bạn bè thôi. Trông nó được không cậu.
- Tao không thích con gái son phấn và đi mỹ viện. Hình như nó làm lại mũi, người thì thấp mà mặt mũi nom như tây, chỉ thiếu cái tóc vàng. Chơi với nó thì được chứ lấy loại đó làm vợ, ngủ cùng giường với nó thì kinh lắm, son phấn nhoè nhoẹt trông như ma. Tôi phá lên cười. Mặt hồ nổi sóng. Đất trời bao la hùng vĩ. Vắng ngắt, đơn độc một cánh buồm đỏ của cậu cháu tôi.
- Hôm nay cậu có chuyện gì bực ở cơ quan phải không? - Tôi hỏi.
- Chuyện vặt.
- Cậu kể đi.
- Cậu góp bảy tám trăm triệu vốn cùng lão Kháng, tổng cộng trên một tỉ, định xây khách sạn mini và lập trụ sở cho công ty liên doanh hàng điện tử. Đâu vào đấy rồi,, thằng bên A dở quẻ. Nó có thợ. Nó bảo phải thợ của nó nếu không nó ngắt hợp đồng. Chó má, nó lôi thợ nó đến, thợ của cậu chết đói à?
- "Bên B là chùm khế ngọt, bên A trèo hái suốt ngày". - Tôi hát
- Rồi cậu xử thế nào?
- Phải chấp nhận thôi, mình phụ thuộc vào nó. Hồi chiều cậu vừa biếu một bộ giàn và đĩa lade cho lão bên A. Coi như xong. Đi ăn xúp lươn, hay ra Tống Duy Tân ăn gà tần?
- Thôi cậu ạ, mợ còn chờ cơm.
- Kệ xác mợ mày và nồi cơm quanh năm ngon hơn đặc sản. Ăn gì?
- Cháu thích nghe cậu nói chuyện. Hôm nọ đứng trú mưa vô tình cháu gặp một ông quen cậu, ông ấy bảo có thời cậu phải ra tòa, đúng không ạ? - Tôi hỏi.
- Đúng. Khi ấy cậu ít tuổi hơn cháu bây giờ.
- Tại sao?
- Cậu là lính đánh thuê, chúng sai cậu can một bản thiết kế cái nhà, cậu làm theo nó, lúc xây lên, nhà nghiêng, bọn nó bùng hết còn lại cậu, dù cậu là thằng làm thuê.
- Bọn nó thoát làm sao được?
- Kiểu gì chả thoát, chỉ có những thằng ngu như cậu ngày ấy mới lôi thôi. Nó ăn ốc, mình đổ vỏ. Ở đời chuyện đó thường lắm. Ai mà chả có lần bị. Đêm Nôen, cậu nằm trong trại giam. Nghe tiếng gió lạnh của mùa đông, thoang thoảng tiếng nói cười của bọn trẻ đi chơi chúa Giáng Sinh, cậu tự thề rằng trong đời cậu chỉ đổ vỏ một lần thôi. Cậu không bao giờ quên cái cảm giác mất tự do của ngày ấy! - Mặt cậu già xọm, hằn những vết nhăn đau đớn.
- Tuần sau cháu vào Sài Gòn công tác, nhập rồi, xuất hạt điều, bây giờ loại đó đang ăn - Tôi lảng sang chuyện khác.
- Thế còn mẹ mày? - Cậu hỏi
- Mẹ cháu giờ ốm luôn, tai lại hơi nghễnh ngãng, hay cậu bàn với mợ cho mẹ cháu lên ở với cậu mợ những tháng cháu đi vắng, bao giờ về cháu đón.
- Không nên sống cảnh chị chồng em dâu. Ở riêng sướng hơn.
- Giá cháu được theo nghề như cậu.
- Cháu cũng như mọi người chỉ nhìn thấy những lúc cậu mang tiền về chứ không nhìn thấy cảnh cậu làm thế nào để ra tiền. Cậu đánh đổi cả cuộc đời lấy nó đấy.
Mưa lắc rắc, chéo xiên hắt vào chúng tôi. Phía chân trời ráng đỏ chạy vòng quanh như bao bọc lấy khoảng trời xám xịt trên cao. Con thuyền lướt vù vù, máu đỏ của cánh buồm bật lên trên sóng nước.
Tôi giục:- Về đi cậu, cháu sợ thuyền lật. Nhà thuyền họ réo loa từ lúc nãy.
- Sẽ không ai gọi nữa vì họ cũng mải chạy bão hết rồi, hồi mới tập cậu cũng uống nước như điên.
Cậu cho thuyền vào bờ sau khi lượn một vòng ra xa để tìm hướng. "Đi thuyền buồm là thế" - Cậu nói - Muốn xa bờ thì trước hết phải ra thật xa, sau đó vòng lại". - Lấy trong túi cậu vài chục, gửi cho bà giữ thuyền! - Ông nói và dắt chiếc xe mới cong.
Tôi lên xe, ông đèo tôi chầm chậm ra đường. Hai hàng phượng rồi đến những cây ban rũ rượi trong gió. Những người đi làm về lầm lũi đạp xe trốn chạy cơn bão. Ông và tôi im lặng. Ông như một người khác, trầm ngâm và già nua, mặc dù so với tuổi năm nhăm của mình, ông quá trẻ.
Tôi và cậu về đến nhà. Trong nhà đầy ắp tiếng cười, cả những tiếng chửi thề. Có một đám đông xúm quanh chiếu bạc ở góc phòng. Không ai ngẩng lên nhìn chúng tôi. Tôi thấy mặt cậu sầm xuống.
- Sao con Dung không đi học, con gái cũng cờ bạc à? Cút ngay. Tao thì phá tan cái ổ của chúng mình bây giờ! - Cậu quát.
- Con được nghỉ vì sợ bão to không chạy kịp!
- Dung đang học trường Đại học ngoại ngữ khoa tiếng Anh, hệ không chính quy.
- Nhà cửa tối om, chửi nhau nghe như hát thi, giải tán! - Cậu chống hai tay vào mạng sườn, mắt vằn lên.
- Bố cho con gỡ một tý, chiều nay thằng Quảng nó xơi của con "hai băng" rồi. - Một tiếng nì nèo và những tiếng quật quân bài đen đét.
Cậu quay người, đi lên gác. Qua chỗ để chiếc tivi và đầu video, cậu tiện tay bật chúng lên. Một khuôn mặt chảy dài với cái mũi sần sùi, nhoe nhoét máu hiện ra.
Những cái răng dài nhe nhởn hai bàn tay hủi đầy máu của con ma chuyên ăn thịt người đang tiến lại một cô gái đẹp nhất trần truồng. Bộ phim ma ăn thịt các cô gái đồng trinh. Phải nói trước Mỹ sản xuất phim ma rất thành công, đến nỗi một thằng thanh niên ba mươi tuổi như tôi cũng thấy hoảng. Cậu nhăn nhó, ấn nút tắt phụt. Miệng lẩm bẩm: Nhảm nhí.
Mợ tôi hiện ra ở cầu thang lên tầng hai. Mợ mặc một cái váy có hai dây, thắt ở eo và xoè ở mông. Khuôn mặt mợ xương xẩu, hai mắt to tròn do tác dụng của mỹ viện. Mũi mợ thẳng gồ lên, khuôn mặt căng bóng vì mợ mới đi căng da mặt. Tổng công trình đại tu của mợ đáng giá bốn triệu bạc, bằng một cây vàng. Mợ như một người sản xuất nước hoa. Ở đó là sự tổng hợp của nhiều loại nước hoa đắt tiền. Mợ giải thích với mẹ tôi: "Em dùng nhiều loại, có loại hơi hắc, có loại mùi ngọt như kẹo, có loại sang trọng. Mỗi loại một tí ngửi mùi dễ chịu lắm".
Mợ nhìn thấy hai cậu cháu, chì chiết:
- Gớm hôm nay bão to có khác, về sớm thế. Thế cậu thả mày ở đâu rồi lại đón về chứ gì? Chắc quẳng cho cháu một ít tiền, kiếm cho cháu một ả gái tơ rồi để cháu ngồi đó, cậu tếch với gái già của cậu.
- Bà lảm nhảm cái gì đấy? - Cậu nghiến răng.
- Là tôi vạch cái bộ mặt thật của ông để cho cháu ông thấy.
- Thôi, bà lui ra đi! - Ông nói và lấy tay gạt mợ sang một bên, chạy nhanh lên cầu thang gác như trốn khỏi một tai hoạ sắp giáng xuống.
Tôi im lặng nhìn ông biến vào căn phòng rè rè tiếng điều hoà. Một lúc sau, căn phòng tắt phụt đèn. Có tiếng nhạc phát ra, lúc đầu to, sau to dần. Tiếng trống phách đập rầm rầm như rung chuyển ngôi nhà bốn tầng.
Tiếng mợ tôi the thé:
- Điên rồ, đú đởn mãi rồi về rửng mỡ, nhạc nghe như chó kêu, điếc hết cả tai.
Tôi nói nhỏ:
- Cậu đang buồn, mợ đừng làm gì căng thẳng thêm.
Tôi đi lên gác, đẩy nhẹ cánh cửa vào phòng cậu. Cậu ngả người vào chiếc ghế xích đu quay mặt ra cửa sổ. Ngoài trời đang mưa, lúc to lúc nhỏ. Mưa trong cơn bão thất thường. Cây bàng già trước cửa oằn mình trong gió. Tôi lại gần, mặt cậu chìm lấp trong bóng tối, trong tiếng gào thét tàn phá của âm nhạc và gió bão. Có ánh nước ở mắt cậu.
Tôi ngồi xuống, hỏi nhỏ:
- Cậu muốn cháu đi đâu cùng cậu không?
- Muộn rồi.
Tôi nhìn ánh nước mắt lăn tăn trên mặt cậu.
- Cháu nghĩ là mình đi đâu đó, cậu sẽ đỡ buồn.
- Chả có chỗ nào đỡ buồn hơn chỗ nào. Thế cả.
- Cháu không hiểu một người như cậu mà không có đâu để đến?
- Nhiều chỗ lắm, nhưng đến để làm gì?
Cậu thở dài im lặng chìm lấp vào trong bóng đêm. Trong đôi loa thùng, giọng người đàn ông trầm ấm hát một bài về sự thất tình. Buồn bã não nề
Người ấy đi rồi?- Giọng cậu bỗng khản đặc.
- Ai đi cơ cậu? - Tôi hỏi nhưng cũng thầm đoán ra người đàn bà cậu yêu.
Người đàn bà mà mợ đánh ghen mấy lần. Cô ấy đi hẳn. Vào Sài Gòn sống và mang theo tất cả những gì cậu cần ở cô ấy.
- Cậu theo vào Sài Gòn tìm cô ấy.
- Tìm, tìm thế nào được? Cậu hiểu tính cô ấy. Cô ấy đã không muốn thì đừng có tìm cách mà gặp. Có những ngày đầy ắp niềm vui và sự may mắn, có ngày thì toàn chuyện khốn nạn. Hôm nay chẳng hạn.
Tôi im lặng vì không muốn đẩy thêm câu chuyện buồn bã này.
Tôi lặng lẽ đứng dậy chào cậu:
- Thôi cháu về đây!
- Đi làm sao được lúc mưa bão này?
- Không sao đâu cậu ạ, sức thanh niên, cháu về không mẹ cháu lo.
Tôi đi xuống nhà. Quây quanh chiếu bạc đến hơn chục người. Tiếng hét, tiếng cười nói như gắt như đang ở giữa chợ. Một cái bàn đầy thức ăn.
Mợ cầm tay tôi:
- Chiều nay cậu đi đâu đấy?
- Cháu và câu đi xem cát.
- Xì, cát với chả đất, đừng lấy vải thưa che mắt thánh. Giấu ai chứ giấu thế chó nào được con già. Tao thì đẻ ra những trò đó.
- Mợ bĩu môi, nheo một bên mắt
- À, ở đây chén thịt chó mày. Hồi chiều, mấy thằng em mày vật ra thịt con Lu đấy. Ai lại nuôi chó ta chung với chó Nhật. Con chó Nhật của tao gần chục triệu, con kia nó nhẩy lên để chết à?
- Con Lu ở đâu ra hở mợ? - Tôi hỏi nhìn chiếc bàn dài, những đĩa Tàu hình bầu dục đựng một thứ thịt đen tai tái. Mùi thịt chó nồng nặc, tanh tanh.
- Hôm kia tự nhiên cậu mày đùng đùng đèo nó về. Nó đen và hôi trong cái rọ. Gớm, trông như chó dại. Cậu mày bảo mua nó về trông nhà. Nó chỉ là con chó mới lớn, trông thế quái nào được. Đến bec-giê Đức tao còn thèm vào nuôi nữa là chó ta. Suốt hai hôm nó tru lên nghe phát tởm. Mày này, tao để ý nó quen cậu mày lắm, cứ trông thấy cậu mày là nó ngoe nguẩy, nằm phủ phục. Cậu mày cứ đi một cái là nó tru như có người chết, tao mất cả ngủ. Tao nghĩ con chó này là của con đĩ nào đây, thế là thịt luôn. Hôm nay ngày rằm ăn được rồi, sáng nay tao đi xin rơm, bọn nó thui nhanh lắm. Con này non, đã kịp lớn hẳn đâu ăn ngon và mềm ra phết.
- Cậu có biết không hả mợ? - Tôi thẫn người.
- Trưa nay đi đâu về, phăm phăm lấy đĩa thịt quay của tao mang cho Lu. Từ ngày có Lu, ông ấy chăm về trưa cho nó ăn hơn. Ông ấy ra đến sân, thấy bọn trẻ con đang đốt rơm thui chó, ngoảnh lại thấy cái rọ không lăn lóc dưới đất, ông nghiến răng ném cả đĩa thịt quay vào tao. Tao tránh được. Tao chửi ngay cho một bài. May mà cái đĩa không trúng tao chứ không vô phúc cho ông ấy, nó mà trúng mặt tao, tao cầm dao chém ngay chứ chẳng tha. Ông ấy đi luôn rồi cùng về với mày đấy. Làm gì tao? Tao là chủ nhà này. Tự nhiên tha con chó điên của con đĩ nào về bắt tao nuôi, tao thịt ăn là tốt đấy. Tao nghi cậu mày lắm, chứ chó mới nuôi tại sao thân thế?
Tôi quay người, đi nhanh lên cầu thang, bỏ lại sau lưng tiếng xoe xoé của bà mợ. Nhạc ở phòng cậu vẫn ầm ĩ phát ra. Cậu mà tiếp tục ngồi trong không khí này một lúc nữa, chắc chắn sẽ điên. Tôi đẩy cửa vào, cái ghế trống không. Trong ánh sáng nhấp nháy của bộ đèn phát ra từ cái giàn cattssete, tôi nhìn thấy giường cậu trống trơn. Không có cậu. Tôi ra sân. Gió gào thét, rít rú trên đám dây điện. Gió quật lên tấm nhựa xanh. Phố xá mờ mịt mưa không một bóng người. Những ngôi nhà đóng im ỉm thu mình trong giá rét.
Cậu đứng tựa lưng vào tường, hai tay khoanh trước ngực. Trông cậu như hoá đá. Mặt cậu đầy nước. Tôi mong đó là nước mưa bắn vào chứ đừng phải là nước mắt.
- Vào đi cậu, mưa ướt hết bây giờ.
Im lặng. Gió phần phật như muốn bứt tất cả những gì nó gặp trên đường. Bỗng điện tắt phụt. ở góc phố tiếng loa truyền thanh ọ ẹ cất lên một giọng đàn ông rè rè: "Mọi người chú ý: Cơn bão số hai đã về đến Quảng Ninh và vùng trung du Bắc Bộ. Sở điện lực ra thông báo tất cả các đường dây cao áp phải chú ý thực hiện tốt mọi biện pháp phòng chống bão lụt, đề phòng tai nạn xảy ra trong mùa mưa bão này"...
- Y như hồi chiến tranh, loa báo mọi người chạy xuống hầm trú ẩn. Thật khủng khiếp.
Tôi đứng bên cậu, trong bóng đêm. Tiếng nhạc ồn ã trong phòng cậu đã tắt để lại cảm giác hụt hẫng. Bây giờ mới thấy gió mạnh. Dưới nhà, tiếng chân chạy rậm rịch, tiếng í ới gọi nhau, tiếng cười. Họ bắt đầu ăn thịt chó, trong ánh sáng của những ngọn nến.
- Mợ thịt của cậu con Lu rồi. Mọi chuyện đã qua, cậu cũng đừng trách mợ - Tôi trầm ngâm.
- Ừ, thịt rồi! - Cậu thở dài.
- Cậu lôi ở đâu ra nó đấy? - Tôi hơi vui hơn, bởi lẽ cậu đã bắt đầu nói chuyện.
- Của cô ấy.
- Sao? - Tôi hỏi.- Hôm kia cô ấy đưa nó cho cậu nuôi vì nó quấn cậu lắm. Nó xinh và khôn, theo cậu lóc cóc mỗi khi cậu đến! - Tiếng cậu bỗng khản đặc như tiếng một thanh niên vỡ giọng.
Tôi không còn biết nói gì nữa. Hôm nay đúng là ngày tận cùng của sự khốn nạn đến với cậu. Ướt sũng.
Tôi nắm tay cậu:
- Cậu vào nhà và ăn một cái gì đó đi, rồi uống một viên thuốc ngủ. Ngày mai cậu sẽ đỡ mệt. Thời gian sẽ làm cậu đỡ buồn.
Tôi bỗng thấy mình già dặn, chững chạc, lại dám dạy khôn một người như cậu.
- Cháu cũng thế, lần bố cháu mất, cháu và mẹ tưởng như không sống nổi. Nhưng rồi cậu thấy đây, mọi thứ đâu vào đấy cả.
- Mất một người chết khác, còn đây người cậu mất lại không chết. Nhìn thấy nhau nhưng không đến được với nhau.
Mưa ào ạt hắt vào chúng tôi. Mẹ tôi giờ này chắc đang ngóng tôi và lo lắng, may mà tai mẹ nghễng ngãng nên không nghe thấy tiếng rú của bão. Mẹ đỡ sợ.
Để cậu đứng một mình, tôi lầm lũi đi xuống nhà. Phòng ăn ồn ã. Họ khen thịt chó mềm, vì đó là chó con. Họ tự thấy khả năng làm thịt chó như thợ, và rủ nhau lúc nào hết tiền sẽ bán thịt chó, bóp chết bọn ở chợ Âm Phủ.
Tôi đi ra đường, đúng lúc gió giật mạnh nhất. Phải về với mẹ, dù căn nhà của tôi tồi tàn và không tiện nghi, nhưng nó ấm cúng. Mưa gió. Đường vắng ngơ ngắt. Chiếc xe đạp khô dầu rít lên vì nước mưa. Cả thành phố quằn quại trong cơn bão. Ba hôm sau, tôi lên tàu đi về phía Nam. Đất Sài Gòn đầy nắng.
Buổi chiều. Tôi đạp xe lên Hồ Tây. Mặt hồ xôn xao gió và gió, dịu dịu sóng lăn tăn, loang loáng màu ráng mỡ gà không quật quã như hôm nay. Tôi vào nhà thuyền. Từng tốp thanh niên cười túm vịn vào nhau xuống những chiếc thuyền con, rồi nhẹ nhàng lướt ra xa. Tôi đứng lặng nhìn. Cuộc sống thanh bình quá. Làng Nghi Tàm xanh um xa xa.
Bà giữ thuyền bảo:
- Cậu thuê thuyền gì?
- Cháu chỉ đến xem thôi chứ cháu có biết bơi đâu. Hôm nay không ai thuê thuyền buồm hả bà?
- Mấy ai biết bơi cái loại thuyền này đâu hả cậu. Đến nhân viên nhà thuyền tập chán chả xong. Hồi trước có một ông già thỉnh thoảng đến đây. Cái hôm bão to ông ấy cứ dứt khoát thuê. Tôi bảo chết thì sao? Cái ông ấy cười bảo tôi cao số lắm, chết làm sao được. Lâu nay không thấy đâu.Tôi im lặng nhìn ra xa. Dìu dặt lan ra tiếng nhạc ở nhà du thuyền. Thôi, chiều muộn rồi, phải về thôi. Vả lại bọn thanh niên cứ nhìn tôi như nhìn thằng dở người. Tôi lên xe, chậm chạp về tự hỏi: Không biết đến bao giờ nữa sẽ có một cánh buồm đỏ trên mặt hồ đầy sóng kia? Cánh buồm của cậu tôi.
Copy Sách Truyện từ Vnthuquan mà không ghi rõ nguồn và người đánh máy là hành động ăn cắp đáng xấu hổ!

MÙA ĐÔNG ẤM ÁP


Tôi đứng trên phà vừa rời bến từ bãi cháy sang Hồng Gai. Thành phố trên
sông huyền ảo và lung linh lạ thường. Đèn sáng lóe trên các con tàu ra khơi
đánh cá, trên những chiếc tàu lớn ghé vào cảng ăn than. Đèn từ các ngôi nhà
cao thấp lô nhô trên lưng chừng núi, kéo cao đến đỉnh núi cũng còn lấp lóe.
Mặt sông loang loáng nước. Sóng ầm oạp và gió từ sông đưa lên làm tôi ớn
lạnh. Tôi bỗng thấy mình bé tí teo, lơ lửng giữa một khoảng không thăm thẳm
cao và mịt mùng sóng. Mọi thứ chợt ùa về trong tôi, dù nó là những kỷ niệm xa
tít tắp. Tôi không có ý định ngày nào cũng phải nhớ về nó, khi cuộc sống của
tôi bây giờ đã khác lắm rồi. Nhưng cũng không bao giờ quên. Nó là một phần
đời của tôi, là ngưỡng cửa đầu tiên tôi đập mặt mình vào khi tôi hơn hai mươi
tuổi.
Năm tôi hai mươi hai tuổi. Một buổi sáng tỉnh dậy. Tôi nhận được phong
thư. Nét chữ của anh. Người đàn ông hơn tôi mười hai tuổi "Đến với bọn anh
đi. Rừng núi và sông nước sẽ đón em. Bé tí ơi, đi một ngày ra khỏi nhà là bé có
bao nhiêu thứ để sống có ích. Bọn anh ở đây có hôm quên cả ngủ vì cuộc sống
tuyệt vời quá, ngủ thấy tiếc lắm. Em đừng mang nhiều thứ lỉnh kỉnh, nhảy xe
hàng và xuống nhé.
Hôn cô bé tí ti và yêu em nhiều. Anh".
Tôi đọc đến thuộc lòng từng chữ, chỗ xuống dòng hay ngắt đoạn. Mối tình
đầu tiên. Thoáng va chạm, run rẩy đầu tiên. Tất cả tôi gửi gắm nơi anh. Dù anh
đã một lần sang sông. Anh bảo: số anh phải thế. Ai cũng có số cả, việc anh lấy
vợ và bỏ vợ là hợp cách. Nếu cứ cố chống, nó sẽ hại đường khác, tốt nhất là kệ.
Tôi tin anh bởi anh có cái gì vừa gặp tôi đã tin ngay. Mắt anh thăm thẳm buồn.
Đôi môi cũng buồn, và cả dáng người cũng buồn rười rượi như thể lần đắm đò
thứ nhất đã đè nặng sự cay đắng lên người anh.
Hai ngày sau. Buổi chiều. Tôi đã đến bến phà và chuẩn bị sang sông. Phà
đông nghẹt người, xe cộ và hàng hóa. Nắng đã tắt. Trên sông tràn lan một mầu
đỏ ối của hoàng hôn. Mầu đỏ lịm hắt từ đâu đó loang dài trên mặt sông, ánh
trên khuôn mặt những người cùng chuyến với tôi. Chắc mặt tôi cũng có cái
màu đỏ. Tôi yêu cuộc sống, yêu tất cả những gì xung quanh tôi, những người
đàn bà lầm lụi, những người đàn ông đen sạm vì gió biển. Tôi là người đang
sung sướng. Thế mới biết, bà bao giờ cũng đúng tuy có lúc bà nói hơi nhiều.
Nước mắt chảy xuôi. Bố mẹ có thể chết thay con, còn con thì phần lớn chết vì
người khác, ví dụ như người yêu chẳng hạn. Tôi bỏ nhà để đến với anh thế này
chỉ được bà đồng ý. Còn bố mẹ thì cấm triệt để. Ngày ấy, con gái mới lớn lại đi
xa một mình, đến chỗ người đàn ông mới bỏ vợ, liệu có ai dám to gan mà cho
đi chưa? Nhưng tôi thì quyết tâm, đi bằng được. Tôi đã thắng.
Phà chậm chạp trôi qua sông. Tất cả thấm đẫm một sắc màu huyền ảo bởi
tôi nhìn chúng bằng ánh mắt kẻ đang yêu. Một người đàn ông ngồi bên một cái
lồng chim. Ông ta hình như ngồi sẵn trên phà từ lâu dù phà bao lần cập bến và
lại sang bờ bên kia. Ông đang chăm chú vào việc của mình là vặt lông chim.
Những cái lông chim bé bé, mềm mại bay quẩn trong không gian và rắc đầy
trên mặt sông, chỗ con phà đi qua. Trong ráng chiều, trong tiếng xịch xịch của
động cơ, những tiếng lít chít của những con chim trong lồng, những con chim
non tròn xoe đỏ bầm máu như những quả sim to đang trơn trụi quẫy đạp dưới
đất. Tôi bỗng thấy chóng mặt. Tôi hoa mắt. Phần vì đi đường xa. Phần vì
những cái mắt chim bé tí, đen nhánh như hai giọt mực nhìn tôi. Tôi thấy thương
chúng quá. Người ta ăn những con này, may ra mỗi con được một phần tư
miếng. Tôi đến bên ông, ngồi thụp xuống và giữ lấy tay ông:
- Cháu xin ông. Ông đừng thịt chúng. Có ai mua đâu mà ông thì cứ vặt lông
chúng mãi thế?
Ông già ngẩng nhìn tôi. Đôi môi khô nứt nhệch ra đầy vẻ quái ác. Hai mắt
đục lờ như mắt cá ươn. Một khuôn mặt dị dạng. Tôi bỗng chùn lại. Ông ta cúi
xuống, tiếp tục túm lấy những con chim bé bỏng và miết lông chúng nhanh
như máy.
Tôi thò tay vào túi, chỗ tiền ít ỏi bà dúi cho tôi chắc đủ trả cho ông ta chỗ
chim còn sống trong lồng.
- Cháu muốn mua chỗ chim còn sống.
Ông ngẩng nhìn tôi, hơi nhệch nhệch một bên mép, giọng khản đặc:
- Năm trăm.
Chỗ tiền tôi có, có thể mua được gấp bốn lần chỗ chim đó.
Tôi mở nắp lồng. Lũ chim chao đảo sấp ngửa đè lên nhau. Tôi nhẹ nhàng
lôi từng con ra và thả chúng. Tuổi trẻ thật ngu xuẩn và hiếu thắng. Gần hết bọn
chim tôi thả không bay lên được vì chúng đều bị thương không nặng thì nhẹ.
Tôi, lúc ấy, trước mắt mọi người chắc là một con bé thừa tiền và ngu ngốc. Một
vài con chim đập đập cánh lập bập bay lên. Thật tiếc cho số chúng. Con nào
yếu thì rơi ngay xuống phà. Vài con khỏe mạnh thì bay vù lên, trên nó là bầu
trời, dưới nó là mặt nước mênh mông. Tôi nhìn theo, xót xa vì biết thế nào nó
cũng bị rơi. Sóng và gió ầm ào, sức chúng làm sao sống nổi. Tôi cúi xuống và
tìm kiếm những con bị rơi, nhặt chúng bỏ vào lồng. Thương nó, tốt nhất là để
nó yên thân trong lồng còn hơn thả tự do cho chúng. Chúng không thể bay bởi
sức tàn lực kiệt.
Phà cập bến.
Tôi bắt đầu phải nghĩ đến tình cảnh của mình.
Không ai đón tôi cả. Anh không đến. Hàng quán lưa thưa. Mọi người ai vào
đó, chẳng ai còn sức mà nhìn tôi cùng chiếc lồng chim nữa, ngoài mấy đứa trẻ
con. Làm gì bây giờ. Tôi tẩn ngẩn đứng lại. Việc đầu tiên phải giải quyết là
chiếc lồng chim và những con chim không có khả năng bay. Chúng đáng để
thịt. Thật mua dây buộc mình. Tôi đưa chiếc lồng chim vào tay một ông già bán
nước "Cụ mang lũ chim này về thịt đi, chúng cũng sắp chết rồi". Tôi đặt chiếc
lồng chim xuống chân và chào cụ rồi quay đi ngay. Cụ già ngây ra nhìn tôi, rồi
nhìn những con chim bé bé đen đen đang loạch xoạch quẫy đạp.
Anh không đón tôi.
Mắt tôi bắt đầu cay xè. Đây là nơi nhiều người qua lại tôi cố nhịn chứ phải
chỗ vắng vẻ, có lẽ tôi khóc từ lâu rồi. Tôi là người kém bản lĩnh. Sai cũng khóc,
tranh luận để đúng về mình xong cũng khóc. Tức bực cũng khóc. Tôi không hề
biết mình phải đi đâu vì tôi không còn nhớ lắm cái địa chỉ anh viết thư cho tôi.
Một bà cụ già nghe tôi trình bày, cụ cũng trình bày lại một cách rất rắc rối. Tôi
không hiểu gì cả ngoài việc là đường sá ở đây lòng vòng lắm. Lần đầu tiên đi
xa không cùng bố mẹ. Xung quanh tôi toàn là người xa lạ và bận bịu. Bây giờ
đang là giờ cơm nước. Sau lưng tôi, phà đã đầy khách và chuẩn bị sang sông.
Tiếng máy nổ xịch xịch. Những người cùng chuyến phà với tôi biến đi đâu như
thể họ tan vào đất tự lúc nào. Tôi chỉ nhìn thấy ông lão bán chim. Ông ta đang
ngồi xuống uống rượu với quả khế xanh, và hút thuốc lào.
Tám năm trôi qua nhanh như chớp mắt nhưng cũng chậm như sên. Khi hạnh
phúc, thời gian qua mau. Khi đau khổ, thời gian dừng lại. Tôi bây giờ là một
thiếu phụ, dù mới bằng tuổi anh ngày ấy. Có khi chưa bằng. Đẫy đà và uy
nghi, tôi béo và mỡ màng chứ không nhí nhảnh như năm nào đến đây. Và bây
giờ đi đâu đã có kẻ đưa người rước. Tốt nghiệp đại học ngoại giao, nhưng tôi
không làm cố định ở đâu cả. Có cơ quan ở đó vài năm, có nơi hai tháng. Tôi
chuyển đi phiên dịch hay làm ở văn phòng đại diện cho các cơ quan nước
ngoài ở Việt Nam. Chồng tôi cũng là một nhà doanh nghiệp. Con gái tôi lên
bốn tuổi. Nó xinh hơn bố và mẹ. Người ta bảo tôi có phúc, nhất là bố mẹ tôi.
Mẹ bảo: "Lắm khi đang ngủ, tao lại giật mình đánh đùng không hiểu mày có
lấy được chồng hay không? Nằm ngẩn ngơ một lúc, nhớ ra là mày có chồng
mà có con rồi, tao mừng không thể tả được. May thế không biết".
... Ngày ấy. Lúc cho xong cái lồng chim, và sau khi ngơ ngơ nhìn ngó một
lúc tôi bắt đầu đi bộ. Đường bụi lầm và đen đúa vì đất và than. Những chiếc xe
Ben bò ì ạch trên đường với những tấn than như con bọ hung. Nhà cửa, cây cối,
tất cả nhuốm một màu xám xịt. Nước mắt tràn ra khỏi mi, tôi không giữ nó
trong người được nữa rồi. Tôi dừng lại. Hà Nội của tôi bây giờ xa lắc. Bố mẹ
đang ngồi bàn về tôi trong sự đau khổ bởi tôi là đứa con không vâng lời. Tôi
thèm được về, trong căn nhà với ba con người đó. Tôi bắt đầu ân hận.
- Trúc, Trúc, có phải Trúc không?
Tim tôi khua loạn xạ trong lồng ngực vì đã có ai đó gọi tên tôi. Nhưng
không phải tiếng của anh. Một người thanh niên đang lao xe tới chỗ tôi đứng.
- Em là Trúc?
- Vâng ạ. - Tôi ngây người nhìn anh. Anh đen hay bẩn? Mũi anh ta hin hin.
- Anh Hoạt nhờ anh đón em.
- Thế anh ấy đâu ạ?
- Anh ấy phải ở nhà thu xếp để em đến. Hậu phương bao giờ cũng phải vững
chắc thì mới thắng lợi được! - Anh ta cười, nụ cười hồn hậu.
Tôi ngồi lên xe. Chiếc xe anh đèo tôi giống y chiếc xe thồ, chỉ khác là không
có hai cái sọt thôi. Anh ấy và tôi ngả nghiêng trên con đường lầm bụi. Tôi thấy
mình vui lên vì đã bắt được tín hiệu của anh, người đàn ông tôi có đầu tiên
trong đời. Anh đưa tôi đến trước một dãy nhà ngói chênh vênh bên sườn núi,
có mấy cái cây con con đen đúa vì bụi. Cửa sổ mở ra núi, nhìn hút lên cao là
cây cỏ hoang dại. Mọi vật khô khốc. Những chiếc giường cá nhân, những chiếc
chiếu đen đen, sơ sài và tạm bợ. Tôi nhìn quanh. Trong góc phòng, chỗ tối nhất
đang phát ra tiếng khầng khậc. Anh đưa đường mủm mỉm cười:
- Anh Hoạt đấy. Thôi coi như anh xong nhiệm vụ với anh Hoạt. Anh phải đi
về đội đây. Bọn anh còn phải tiếp tục khảo sát thực địa. Lúc nào rỗi, em và anh
Hoạt sang bọn anh chơi.
Tôi nhìn chăm chăm vào phía góc phòng nơi đang nhịp nhàng phát ra những
âm thanh quái đản. Anh đấy ư? Một khuôn mặt phì phì, ung ủng với một cái
mồm há ra thở nặng nhọc như kéo cưa. Hai tay thả thõng thượt như người hết
sinh lực. Hai bàn chân đen nhẻm thò ra ngoài chiếc chăn rách. Trông anh, từ cổ
xuống giống như một xác chết.
- Anh Hoạt, anh Hoạt ơi! - Tôi lay người anh khe khẽ.
- Hừm... - Anh hù tôi một cái rồi trở mình, xoay lưng vào mặt tôi. Ngủ tiếp.
Căn phòng thoáng yên tĩnh.
Nước mắt tôi lại thánh thót rơi. Bố mẹ có yêu thương tôi và các cụ ngày ngày
có dạy dỗ tôi trăm nghìn sự thì chắc cũng chưa bao giờ nghĩ sẽ dạy tôi phải xử
lý với tình huống này như thế nào.
Bóng tối ập xuống. Trong không khí có mùi ngai ngái của khói củi. Tôi tựa
cửa ngóng vu vơ ai đó mà tôi chẳng biết. Thế còn sướng hơn là ngắm một
người đang ngủ li bì, quanh người nồng nàn mùi chua chua của rượu, một thứ
rượu rẻ tiền và chóng say.
Bây giờ, sau nhiều năm, tôi mới hiểu ra những gì xảy ra với anh và tôi ngày
ấy là hợp quy luật. Nhưng ngày ấy, tôi và mọi người thì nghĩ rằng anh là một
lão đàn ông đàng điếm, trai lơ và ích kỷ. Một con người không có tình yêu. Bố
mẹ tôi thì cho anh là kẻ lọc lừa.
... Lúc ấy, khoảng bảy giờ tối thì anh dậy. Khuôn mặt anh mờ mịt như người
vừa ở trong hàng thế kỷ chui ra. Sau hơn hai trăm cây số và mấy lần phà, tôi
được nghe anh đón tôi bằng câu đầu tiên "Anh khát quá. Anh thèm ăn một bát
canh rau gì đó man mát. Hoặc là uống một gáo nước lã cũng được. Nước mưa
ngọt lắm". Những người cùng phòng ái ngại nhìn tôi và lặng lẽ tản đi hết. Tôi
lại khóc rấm rứt. Anh thì trố mắt ra nhìn tôi, vẻ không hiểu gì cả. "Sao thế em?
Chúng mình gặp nhau thế này vui quá còn gì. Hay em đang gặp chuyện gì
buồn. Thế em đến lúc nào đấy, ăn gì chưa?". Tôi khóc vì anh nhưng anh thì
nghĩ là tôi khóc vì một cái gì đó. Nói ra chẳng giải quyết được cái gì cả. Và anh
ôm lấy tôi. Thế là mọi nỗi uất hờn tan đi hết. Tôi yêu anh. Một tình yêu đầu
tiên, thánh thiện và trong sáng vô cùng. Tôi yêu tất cả những gì có ở nơi anh.
Và anh là người đẹp nhất trong tất cả những chàng trai xung quanh tôi. Người
con gái đến tuổi dậy thì có những đụng chạm đầu tiên với một người đàn ông,
thường bị xúc động ghê gớm và không bao giờ quên.
Đêm đến. Hai chúng tôi đi bộ ra rừng. Tôi vui vẻ trở lại và không thấy mệt
mỏi. Đêm ở rừng âm u, huyền bí. Xa xa, tiếng sóng biển ầm ĩ. Tôi và anh ôm
lấy nhau. Rồi anh bỏ tôi ra, thao thao kể về những công việc của anh dưới này.
Đi khảo sát địa hình của những mỏ than. Lập đề án khai thác than và đưa
chúng vào sử dụng. Có bao nhiêu cách khai thác. Và đủ mọi chuyện đã xảy ra
trong những ngày anh ở đây. Anh kể cho tôi nghe về những chuyến đi săn
đêm. Rồi biển động thì con sóng to ra sao, tiếng nó va vào kè đá thế nào. Anh
hào hứng kể với tôi mọi chuyện, cả chuyện anh trêu các cô gái mỏ thế nào, như
thể tôi là một thằng bạn lâu ngày anh gặp lại. Đến một thảm cỏ khô khô, tôi và
anh cùng ngồi xuống. Anh hôn tôi. Một nụ hôn loang loáng chạy qua môi tôi,
môi anh mềm, mát lạnh. Môi tôi nóng run rẩy. Anh chạm vào tôi như gió
thoảng rồi buông ra ngay, khi tôi chưa kịp trấn tĩnh. Tôi ngây người nhìn anh
và tự hỏi: anh chán tôi rồi hay sao?
Anh vẫn tiếp tục kể mọi chuyện. Còn tôi thì bắt đầu nghi ngờ anh. Rồi anh
thì thào "Về ngủ đi. Em đi xa chắc mệt lắm". Tôi trả lời "Em có thể ngồi đây
với anh đến sáng. Em lặn lội xuống đây với anh không phải để ngủ". Anh cười
"Vớ vẩn. Sương xuống sẽ làm em quay lơ ra. Mà anh thì ngày mai cũng phải đi
làm. Hôm nay đã say cả ngày rồi. Vì em đấy. Chúng nó bảo anh là người hạnh
phúc nhất nên phải khao rượu. Mà tính anh đã uống phải say xỉn thì thôi. Uống
lởm khởm súc miệng khó chịu lắm".
Tôi im lặng. Trên trời, những chùm sao nhay nháy một cách yếu ớt. Hóa ra
tôi chẳng quan trọng gì với cuộc sống của anh cả. Anh chồm người lên tôi. Tôi
im lặng và chờ đợi. Người tôi run lên vì anh gần gũi tôi quá. Anh hỏi: "Yêu anh
không, bé con?". Tôi gật, người nóng bừng. "Trước anh, bé đã yêu ai chưa?".
Tôi lắc. "Sao bé có vẻ từng trải và bạo dạn lắm. Anh nghĩ là em đã có một ai?".
Tôi tiếp tục lắc. "Em yêu anh và tin anh nên em không sợ anh". Anh ngồi
thẳng dậy, cười: "Con gái chết vì cái sự tin đó. Hết đời như chơi đấy bé ạ, nếu
không biết giữ mình. Bạ ai cũng tin thì nguy. Nhỡ anh hại đời con gái của em
và bỏ em thì sao?". Tôi thấy ngần ngại: "Sao lại hại em. Chúng mình yêu nhau
và sẽ lấy nhau". Tôi nói và ngồi lên, vòng hai tay ôm lấy người anh. Anh im
lìm như pho tượng. "Mọi chuyện xa xôi lắm bé con ạ. Anh vừa thoát cuộc sống
gia đình. Thỉnh thoảng đón thằng cu, chăm sóc nó là anh thấy sung sướng.
Anh chưa tưởng tượng ra mình sẽ lấy vợ và lại đẻ con. Đó là cả một sự mạo
hiểm". Tôi nóng mặt: "Thế tại sao anh nói là anh yêu em?". "Anh yêu em ngay
từ khi nhìn thấy lần đầu. Nhưng em còn chíp hôi lắm. Vả lại, chắc gì em sẽ yêu
anh mãi? Anh tin là em sẽ chán anh trước. Nhất là anh già rồi, chỉ kém bố mẹ
em có vài tuổi thôi". "Vậy anh gọi em xuống đây để làm gì?". Tôi cáu "Ơ hay
nhỉ. Đi thế này em không thích sao. Em được đến một vùng đất mới mẻ và
đáng yêu. Anh thì được đi đây đi đó. Được sống như ý muốn của mình chứ
không sống theo ý thích của người khác. Hồi bé thì sống theo ý bố mẹ. Lớn lên
một tí, chưa hiểu đời là cái gì và nên xử lý với nó ra sao thì a lê hấp, lấy vợ. Một
cô vợ ngày ngày dạo quanh anh như một ông công an mặc váy trong nhà.
Trong túi áo của nàng sẵn một cái còi, cần đến là thổi toét toét, ngay cả khi đi
ngủ". Anh cười và ôm lấy tôi. Môi anh lại lướt nhanh trên môi tôi. Mát mẻ dịu
dàng như miếng lê. "Cài khuy áo ngực lại, cô bé. Ngực em lộ ra hết trước mặt
anh rồi". Tôi nóng bừng người. Trong bóng tối, có một chút loe loé sáng của
một ánh đèn hắt xa xa, ngực tôi lộ ra, trắng như mầu sứ. Anh nhẹ nhàng, chăm
chú cài áo cho tôi như tôi là con của anh. Anh phủi nhẹ nhẹ đất ở quần tôi và
kéo tôi đứng dậy. "Về đi. Đừng bao giờ ra chỗ lạ mặc cái áo dễ bật cúc như thế
này. Nó sẽ kích thích đàn ông, lúc ấy em sẽ bị vạ lây đấy". "Anh không yêu
em sao?" Tôi thảng thốt hỏi. "Yêu em và thương em lắm chứ, bé con của anh.
Nhưng đừng bắt anh phải sống khác mình. Hiểu cho anh nhé". Tôi cay đắng,
im lặng đi theo anh. Đến bây giờ, tôi vẫn còn nhớ là lúc ấy, tôi không còn hiểu
anh là kiểu người gì nữa. Theo như tôi được biết, trai gái yêu nhau thì phải hôn
nhau và ham muốn được sống với nhau. ít nhất là anh phải có những hành
động gì đó với tôi, khi chỉ có hai đứa với nhau, giữa núi non và biển cả. Chúng
tôi là hai kẻ tự do hoàn toàn cơ mà. Mẹ cũng dạy tôi nhiều. Tôi cũng được
nghe nhiều, và cả đọc truyện nữa, hình như chưa có trường hợp nào tương tự
thế này. Tôi và anh không nói gì cả và về nhà. Anh nhường phòng cho tôi và
sang nhờ một người bạn. Biết tôi sợ ma, anh rủ chị cấp dưỡng bếp ăn tập thể về
cùng ở với tôi cho vui. Đêm đó, với tôi là đêm trắng. Trong khuya. Không gian
lành lạnh của một ngày đầu đông. Tôi nghe tiếng gió khua lá cây rừng xào xạc.
Thỉnh thoảng có tiếng tu huýt của một giống chim rừng gì đó bay vèo qua. Rồi
tĩnh lặng. Loáng thoáng, tiếng ngáy của anh bên kia tấm liếp được gió đưa qua
bên tôi. Tôi nghĩ đến bố mẹ, giờ này chắc bố mẹ cũng không ngủ được vì còn
phải cùng nhau tưởng tượng ra những cạm bẫy nào mà tôi sẽ mắc phải.
Sáng hôm sau, anh chạy sang phòng tôi. Khuôn mặt anh tràn trề sinh lực
chứ không như lúc anh mới tỉnh cơn say rượu. Tôi tin là hôm qua anh ngủ rất
ngon. "Chào. Bé ngủ ngon không? Hôm nay bé ở nhà với các chị nhé, anh
phải đi làm đây. Bảo các chị ấy dẫn ra chợ nhé. Tham quan chợ một lúc rồi về
ghi nhật ký, vài chục năm nữa giở ra đọc, thích lắm bé ạ". Anh vô tư trèo lên
cái xe đạp mà không cần thấy tôi đang trân trối nhìn anh. Anh nháy mắt với tôi,
và phóng vụt đi. Tôi không bao giờ nghĩ hiểu rằng trên đời lại có một cái loại
tình yêu quái quỷ như thế này. Chị cấp dưỡng tay bóp chặt nắm tiền, cười: "Đi
chợ mua cua bể và mực. Làm món chả mực và cua rang muối. Em sẽ thích
lắm". Tôi bèn cáo từ chị và ở nhà một mình.
Tôi ngồi im lìm giữa một căn nhà tồi tàn sơ sài như trong khoang thuyền của
người ngư dân sống cuộc đời chài lưới. Nằm ra giường và nhìn ra sân. Ngoài
trời, nắng đầu đông loang vàng. Gió se se lạnh. Tôi thấy trống trải và hụt hẫng.
Như người đứng trước một cuộc chạy thi, trước mặt là vòng hào quang rực rỡ.
Chạy mãi, chạy hết hơi đuối sức, trước mặt còn lại một bãi đất hoang, lởm
chởm đá.
Một ngày nữa trôi qua. Một sự lập lại như ngày trước. Anh rất quan tâm
chăm sóc đến sức khỏe của tôi. Làm mọi món ăn bằng đồ biển cho tôi thưởng
thức. Nhưng anh không hề hôn thêm tôi lần nào nữa. Tối đến, anh để tôi ở nhà
và đi câu tôm cùng bạn bè. Anh không cho tôi đi vì sợ tôi bị lạnh sẽ ốm. Và
anh không muốn tôi mất ngủ, da sẽ xấu lắm.
Ngày thứ ba. Anh đưa tôi ra bến phà để sang Bãi Cháy. Tôi về. Trước mặt
tôi, đó là cả một chặng đường dài tít tắp với ba lần sang sông. Không còn cái
đích là tình yêu trước mặt để vẫy gọi nữa. Tôi về với căn nhà be bé như cái tổ
chim che chở cho tôi. Lúc ấy, tôi mới hiểu gia đình quan trọng như thế nào.
Tôi vừa đi. Hai mắt cay xè, mòng mọng nước và cố gắng kìm nén để đừng
khóc trước anh. Phà rùng rùng sang ngang. Anh đứng trên bờ vẫy tôi rối rít.
Anh hét lên trong gió là bao giờ xong việc sẽ về thăm tôi. Anh chuyển hẳn
công tác về vùng mỏ, nó hợp với nghề và sở thích của anh. Tôi quay đi, hạ cái
túi lỉnh kỉnh những tôm, cua, sò, huyết và mực khô anh mua biếu bố mẹ tôi
xuống. Bắt đầu khóc. Khóc như mưa giăng qua mắt. Khóc như bị hun khói
ngày rằm tháng bảy vào lễ chùa Hà cùng mẹ. Tất cả, tan nát và mịt mờ đau
khổ.
Rồi tôi cũng về tới nhà.
Đến bây giờ sau nhiều năm, tôi vẫn còn nhớ nét mặt của bố mẹ khi nhìn
thấy tôi hiện ra ở cửa như một kẻ bại trận, với một ít chiến lợi phẩm lục đục
trong túi. Bố mẹ già xọp đi. Cả khuôn mặt toát lên màu xám xịt, như thể hai
người vừa chạy thoát được một trận bom. Tôi vào nhà, quăng đám đồ đạc ra
đất, ngồi phịch xuống giường. Người khô khốc và nặng trĩu. Bố mẹ nhìn tôi
đầy vẻ kinh hãi và không ai bảo ai, chạy thẳng ra đường. Hai người ngó mỗi
người một ngả, rồi quay nhìn nhau, và lại ngó nghiêng như tìm ai đó. Rồi, cả
hai cùng vào. Mẹ hỏi: "Nó đâu?" Tôi ngơ ngác: "Ai cơ ạ?". "Thằng khốn ấy
chứ ai?". Tôi thấy nhẹ bỗng: "Anh ấy chuyển hẳn về đó công tác. Bao giờ có
điều kiện sẽ về Hà Nội chơi thôi ạ". "Ai đưa mày về đến đây?". Mặt mẹ đỏ dần
lên. "Con tự về mẹ ạ". Mẹ hét lên: "Làm sao đến nông nỗi này con ơi. Thôi thế
là xong đời rồi. Nó xơi mày xong nó đi đằng nó rồi mày lại tự bò về chứ gì?
Thằng khốn nạn. Nó bỏ vợ con bơ vơ. Nó lại lừa con tôi. Tôi phải giết nó. Thân
tàn ma dại rồi con ơi. Sao tôi khổ thế này. Tôi có ác độc gì đâu mà giời phạt
tôi". Mẹ đau khổ thật sự, lồng lộn lên như con thú bị thương. Trông mẹ già xọp
và quằn quại. Ai không biết tưởng như một tai họa gì đó như cơn lốc ào vào
nhà tôi. Tôi ra sức thanh minh rằng anh tốt lắm, anh chăm chút tôi bằng tình
cảm của một người anh với em gái, rằng tôi chưa hề bị anh xơi một tý nào, rằng
anh còn dạy tôi cách sống ra sao giữa những người đàn ông xa lạ. Tôi càng
bênh vực anh thì bố mẹ càng gầm rít. Tôi khóc vì nhớ anh và vì cuộc tình của
tôi và anh hình như tan vỡ. Còn bố mẹ thì tưởng tôi là kẻ lầm đường lạc lối, bị
một thằng Sở Khanh mang cuộc đời con gái đi mất. Và tôi là kẻ thất tình. Bố
mẹ đi theo con đường suy nghĩ của bố mẹ trong sự tưởng tượng. Tôi thì lại
sống bằng cái dĩ vãng của ba ngày chua chát vừa qua, khi hiểu rằng anh không
yêu tôi như tôi tưởng. Tôi là kẻ bỏ đi - trước mắt bố mẹ.
Sau đó, bố mẹ đã bằng khả năng của mình xử lý anh. Nhưng hình như anh
cũng không vì thế mà bị làm sao cả. Anh là người có chuyên môn, lại dám
xông xáo, hình như anh lên lãnh đạo.
Tôi và anh chia tay nhau. Phần vì tôi tự ái. Phần vì bố mẹ. Phần vì tôi cũng
xinh đẹp và có nhiều người mê. Và ba năm sau, tôi lấy chồng. Một người
chồng tuyệt vời trước mắt mọi người. Ngày cưới tôi, mẹ tôi khóc hu hu. Tôi hỏi
tại sao, mẹ bảo "Giời thương tao, tao chết cũng nhắm mắt, nó biết mày mất
trinh mà vẫn làm đám cưới to thế. Thời mẹ, con gái như con chỉ đáng gọt gáy
bôi vôi thôi. Cố sống cho tử tế với nó, lúc nào nó cáu quá, có đánh con thì con
cũng cố mà chịu nhé". Tôi im lặng nhìn mẹ. Không hiểu mẹ có bị lẩm cẩm
không. Hay là tôi phải gào lên với mẹ và mọi người rằng, tôi không bị mất gì
cả, chẳng ai trộm cắp gì của tôi cả.
... Những lon bia. Những đĩa thức ăn đặc sản của vùng biển đầy ự trên bàn
chờ đón đoàn của tôi về công tác. Họ về đây ký hợp đồng mua than của ta. Tôi
có nhiệm vụ giao dịch và là mối dây giữa hai cơ quan. Những lời chúc tụng và
những ánh mắt đàn ông nhìn ngắm tôi. Tôi quen với những thứ đó rồi. Chỉ có
điều, chưa một người đàn ông nào nhìn tôi như Hoạt ngày ấy. Bây giờ, quay
trở lại Hồng Gai, tôi đã thành người khác. Tôi có nhìn thấy một cậu thanh niên
xách một túm chim rừng, con mỏ dài, con mỏ ngắn. Màu lông rất đẹp. Anh ta
hỏi tôi có mua không, hai ba nghìn một con. Tôi cười lắc đầu chợt nghĩ, ở Hà
Nội chim quay mười bảy nghìn một con, đắt thật. Tôi nhớ anh cồn cào, dù tôi
rất yêu chồng và con tôi. Hai chuyện đó, theo tôi, hoàn toàn chẳng can dự gì
với nhau cả.
Đêm đến. Tôi đi ra biển. Khoảng rừng ngày xưa chúng tôi ngồi với nhau
giờ người ta san phẳng và xây nhà rồi. Nhà mọc san sát. Trang trí nội thất đẹp
như những khách sạn mini. Trên đầu tôi, vẫn những vì sao lưa thưa, có vì sáng
rực, có vì nhạt nhòa, trên biển ánh sáng nhiều và chi chít hơn ngày xưa rất
nhiều. Cuộc sống ngày một đi lên, sung túc hơn. Càng sống, càng thấy anh
đúng. Những cái gì ngày xưa tôi oán giận anh, ngày nay tôi làm đúng như vậy.
Hóa ra, con người, từ lúc sinh ra đến lúc chết đi ai cũng đi chung một con
đường. Vừa giống nhau, lại vừa khác nhau. Người may mắn thì ít xa vào ổ gà.
Người đen đủi thì hay rơi xuống hố. Những cái sự bắt đầu và kết thúc thì như
nhau cả. Tôi im lìm nhìn biển đen thẫm trước mặt. Mùa đông năm nay đi về
hướng nào chẳng biết. Tháng mười một nhưng nắng vẫn hoe vàng. Tôi chỉ mặc
một chiếc váy thun mà không bị lạnh. Ai đó bảo rằng biển ấm vào mùa đông
và mát vào mùa hè. Biển muôn đời đáng yêu và dễ gần. Hồi chiều, tôi tìm đến
nơi ngày xưa anh công tác. Người ta bảo anh đi khỏi đó lâu rồi. Anh ưa sự
khám phá. Hình như anh vào khu mỏ mới nghiên cứu và khai thác than mỏ
nhỏ. Những mỏ vô danh và chưa ai đặt chân tới. Có người thì bảo hình như anh
và bốn người nữa trong một lần đi thăm dò mỏ mới, hít phải chất titan gì đó
trong khe sâu và chết rồi. Có người lại bảo anh chuyển sang Hải quan, chuyên
đi tàu trên biển bắt bọn buôn lậu quốc tế. Nói chung, tôi chẳng nhận được
những thông tin gì cụ thể về anh, ngoài việc anh là người ưa làm việc, ưa khám
phá. Anh vẫn độc thân. Cuộc sống và niềm vui của anh là công việc. Còn nhớ,
ngày ấy, khi chia tay tôi, anh có viết vài dòng cho tôi, đại ý là anh đã trải qua
mọi sự rồi. Ngay trong tình yêu cũng vậy, anh yêu tôi nhưng anh không vì tôi
mà sống khác. Anh hôn tôi bằng đôi môi của người đàn ông từng trải chứ
không thèm khát nhục dục của kẻ mới lớn. Anh, lúc ở rừng với tôi, anh có thể
nhịp nhàng mà chiếm đoạt tôi, và biến tôi thành nô lệ của anh vì tôi rất ngây
thơ và tin anh. Nhưng anh không muốn bởi vì tôi còn cuộc đời của tôi. Với anh,
điều đó không quan trọng, miễn là khi tôi đi lấy chồng, tôi còn nguyên vẹn với
chồng.
Tôi không còn nước mắt để khóc nữa. Người đàn ông đã có vợ thường tìm
trong tình yêu mới vẻ đẹp tinh thần chứ không phải sự cuồng si của thể xác.
Anh không muốn lấy tôi bởi anh không muốn tôi đau khổ. Anh bảo: "Lấy
nhau sẽ phải đẻ con, anh cũng yêu thương con của chúng ta thôi nhưng cái tình
yêu đó không thể bằng tình yêu của một chàng trai chưa bao giờ có vợ và con.
Anh vẫn phải dành anh cho con của anh với người vợ cũ. Như thế, chúng mình
và các con đều đau khổ vì không ai được trọn vẹn cả".
Anh ở đâu? Sao tôi nhớ anh thế này. Bao nhiêu năm, tôi sống và tôi hiểu
rằng, chẳng bao giờ tôi gặp được người đàn ông nào thay thế được anh trong
tâm tính của tôi.
Sương nhè nhẹ buông. Trong gió có mùi tanh nồng nồng của biển. Có mùi
mặn mặn của muối. Tôi thấy nóng bừng người vì nhớ anh.
Tôi đang sống trong một năm không có mùa đông.
Quảng Ninh 2-1992